Bình giảng bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Bình giảng bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm – Bài làm 1

Thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm đã có nhiều tác phẩm xuất sắc. Với phong cách trữ tình chính luận, giàu suy tư, xúc cảm dồn nén nhất là khi viết về đất nước Việt Nam, các tác phẩm của ông đều được đánh giá cao. Và "Đất nước" là một ví dụ điển hình. Đoạn trích "Đất nước" là phần đầu của chương V trích Trường ca Mặt đường khát vọng. Trường ca này viết về sự thức tỉnh vùng đô thị tạm chiến miền Nam, về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Đoạn trích "Đất nước" được sáng tác từ sự cảm nhận về cội nguồn sâu xa của đất nước trên các phương diện: văn hóa, lịch sử, địa lý. Tác giả khẳng định: "Đất nước này là của nhân dân". Từ đó thức tỉnh tuổi trẻ xuống đường chống đế quốc Mỹ. Toàn bộ bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm lần lượt lý giải những câu hỏi: Đất nước có từ bao giờ? Đất nước là gì? Ai đã làm nên đất nước? Xuyên suốt bài thơ, tác giả làm sáng tỏ những câu hỏi trên. Tác giả đã đưa người đọc trở về với cội nguồn của đất nước. Nhà thơ lặng ngắm và quan sát đất nước dung dị đời thường. Đặc biệt tài năng sử dụng tài tình chất liệu văn hóa dân gian được thể hiện rất rõ trong tác phẩm: " thương nhau gừng cay muối mặn", "tóc thì bới sau đầu", "nơi em đánh rơi chiếc khăn tring nỗi nhớ thầm"….. Chất liệu ca dao dân ca được tác giả sử dụng rất sáng tạo, gợi cảm giác gần gũi với người đọc.

Cách định nghĩa về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cũng rất độc đáo. Nhà thơ định nghĩa bằng cách triết tự. Đó là trả lời các câu hỏi: đất là gì? Nước là gì? Rồi ghép lại đất nước là gì. Bằng cách giải thích chúng trên chiều dài lịch sử, không gian, thời gian, địa lý… nhà thơ đã cho người đọc thấy được đất nước không phải là cái gì đó xa xôi mà kết tinh hóa thân trong mỗi con người. Từ đó, tác giả nêu ra ý thức trách nhiệm mà mỗi người cần phải có. Đất nước là một phần cơ thể, "là máu xương của mình" vì vậy mà phải biết bảo vệ nó. Bảo vệ đất nước là bảo vệ chính mình. Đó là định nghĩa đất nước.

Xem thêm:  Suy nghĩ về ý kiến: “Một người là một pho sách, nếu ta biết đọc họ”

Lí giải ai đã làm ra đất nước, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục soi ngắm trên các phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa. Ông khẳng định: "Đất nước này là của nhân dân". Và điều đặc biệt ở những câu thơ của ông trong tác phẩm luôn có chất liệu ca dao với những nét đẹp tiêu biểu: say đắm trong tình yêu, quí trọng tình nghĩa hay kiên trì bền bỉ trong đấu tranh. Cái mới của nhà thơ không chỉ dừng lại ở việc sử dụng chất liệu ca dao. Ông còn sáng tạo hơn đó là chỉ lựa chọn một số ý trong ca dao chứ không trích dẫn nguyên văn toàn bộ. Điểm sáng của tác phẩm này chính là tư tưởng đất nước là của nhân dân. Đất nước là đề tài quen thuộc. Tư tưởng đất nước là của nhân dân đã từng xuất hiện trong quan niệm của thời đại trước. Như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo từng viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Hay Phan Bội Châu: "dân là dân nước, nước là nước dân". Đến những nhà thơ cùng thời, Nguyễn Đình Thi: "Ôi đất nước những người áo vải – Đã đứng lên thành những anh hùng". Nguyễn khoa điềm lại thể hiện tư tưởng ấy ở nhiều phương diện như lịch sử, văn hóa, địa lý… Ông đã có những cách nói mới, phát hiện mới.

Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm cũng thể hiện nét trữ tình – chính luận của phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Phong cách này khiến cho triết lý không khô khan mà đi vào lòng người. Để đạt được điều đó, bài thơ đã được nhất quán về giọng điệu. Một giọng điệu tâm tình tha thiết, lắng sâu như cuộc trò chuyện của chàng trai và cô gái yêu nhau. Hình ảnh được sử dụng trong thơ cũng rất chi tiết, gần gũi và đời thường. Đặc biệt là việc sử dụng chất liệu được rút ra từ kho tàng văn học dân gian. Tất cả những yếu tố này đã khiến cho bài thơ được người đọc đón nhận đông đảo.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Mã Lương trong truyện Cây bút thần.

Tóm lại, "Đất nước" là một tác phẩm hay viết về chủ đề quê hương đất nước con người Việt Nam. Tác phẩm không chỉ có giá trị về mặt văn chương nghệ thuật mà còn chứa đựng tư tưởng đúng đắn, có tác động lớn đến khả năng vận động mọi người xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược mà ngay từ đầu đã là mục đích sáng tác bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

Bình giảng bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm – Bài làm 2

“Mặt đường khát vọng” là trường ca độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, ra đời trong chiến tranh ác liệt thời chống Mĩ, tại chiến trường Trị – Thiên – một điểm nóng – trên chiến trường miền Nam vào năm 1971. Bài thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân. Trong bài “Có một thời đại mới trong thi ca”, Trần Mạnh Hảo viết:

“Vào đêm giao thừa  Tết âm lịch 1973 – 1974, dưới rừng Phước Long, chúng tôi xúc động nghe trích đoạn “Đất Nước” trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm phát trên Đài phát thanh. Những về đất nước, về dân tộc đã được nhà thơ hiện đại hoá bằng chất suy tư lắng đọng và cảm xúc mãnh liệt”.

“Đất Nước” – là chương V trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dài 110 câu thơ (trong “Văn 12” chỉ trích 89 câu). Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về Đất Nước trong cội nguồn sâu xa văn hóa – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai, cảm hứng chủ đạo về Đất Nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện Đất Nước trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V “Đất Nước” là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc.

Xem thêm:  Bình giảng bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Mười ba câu thơ dưới đây trích trong phần đầu chương “Đất nước” thể hiện cảm nhận: Đất Nước gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt nam:

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

(…)

Làm nên Đất Nước muôn đời…”.

Trong chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”, hai từ Đất Nước và Nhân Dân đều được viết hoa, trở thành “mĩ tự” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về Đất Nước và Nhân Dân. Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào. Cấu trúc đoạn thơ 13 câu thơ là cấu trúc tổng – phân – hợp mà ta cảm nhận được tính chất chính luận của ngòi bút thơ Nguyễn Khoa Điềm.

1. Hai câu thơ mở đoạn là sự thức nhận chân lý về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử,… Đất Nước gần gũi và gắn bó thân thiết với “anh và em”, với mọi người:

“Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước”.

Chỉ “một phần” nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào. Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của Đất Nước” được diễn đạt một cách “mềm hóa” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em”.

2. Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay” đến “ngày mai” và muôn đời mai sau.

“Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”.

Loading...

Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: “Đất Nước là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn – Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Và “khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng. Gia đình là “một phần” của Đất Nước. Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê hương Đất Nước. Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới. Ý tưởng ấy đã được Nguyễn Đình Thi thể hiện trong một tứ thơ sâu và đằm về nỗi “nhớ”:

“Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”.

Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu đất nước, mới có thể có tình nghĩa sâu nặng “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”, mới tìm thấy đất nước quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác:

“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những lần trốn học bị đòn roi.

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi”.

(Giang Nam)

Nói về cội nguồn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích “Trăm trứng”: “Đất là nơi Chim về – Nước là nơi Rồng ở – Lạc Long Quân và Âu Cơ – Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng – Những ai đã khuất – Những ai bây giờ…”. Từ huyền thoại thiêng liêng ấy mới có ý thơ này:

“Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn”

Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên, là yêu thương. “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam. Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và đất nước. Đất Nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.

Bốn câu thơ trên đây cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay”… “Khi chúng ta cầm tay mọi người”, “Đất Nước hài hoà nồng thắm…”. “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này. Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam.

Đất nước “Nguồn thiêng ông cha”, đất nước “Trong anh và em hôm nay”, đất nước trong mai sau. Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời :

“Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng”.

, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Sơn Nam… đã tạo nên giọng điệu Nam Bộ hấp dẫn trong thơ ca và truyện của mình. , Nguyễn Khoa Điềm, ,… cũng có một giọng điệu riêng “rất Huế”, dễ thương dịu ngọt. Hai tiếng “mai này” là cách nói của bà con xứ Huế.

Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước để lại” xây dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (), “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh). Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng. “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc . Điều mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần.

Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào. Giọng thơ trở nên ngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…”

“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: “Đất Nước là máu xương của mình”. Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “Đất Nước là máu xương của mình” nên Trần Vàng Sao đã viết:

“Nuôi lớn người từ ngày mở đất,

Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật

Một tấc lòng cũng đẫy hồn Thánh Gióng”.

(“Bài thơ của một người yêu nước mình” 19/12/1967)

Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng. “Phải biết gắn bó và san sẻ… phải biết hóa thân…” thì mới có thể “Làm nên Đất Nước muôn đời”. Điệp ngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động. Có biết trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thì mới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” là tiếng nói tâm huyết “mang sức mạnh ý chí và khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin của ngôn từ” như một nhà ngôn ngữ học lừng danh đã nói.

Trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến, đề tài quê hương đất nước được tô đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tác, những đoạn thơ hay, những câu thơ tuyệt cú. Cảm hứng về đất nước được diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đáo, mang phong cách sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Chất trữ tình thấm đẫm dư ba. Đất nước trong máu lửa mới mang cảm xúc sâu nặng thế. Đây là tiếng nói ở hai đầu đất nước:

“Tôi yêu đất nước này chân thật

Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi

Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

Và yêu tôi đã biết làm người

Cứ trông đất nước mình thống nhất”

(Trần Vàng Sao)

“Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”.

(Chế Lan Viên)

Trở lại đoạn thơ trên đây của Nguyễn Khoa Điềm. Tứ thơ rất đẹp. Đất nước thân thương gắn bó với mọi người. Phải biết hiến dâng cho “Đất nước muôn đời”. Đoạn thơ đẹp còn vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất nước và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình hàm ẩn tính công dân của thời đại mới. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều mới mẻ tìm tòi.

“Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình…” – một tứ thơ rất đẹp! Một tứ thơ lung linh mang vẻ đẹp trí tuệ! Lúc hòa bình phải biết đem “trí lực” để xây dựng Đất Nước, “làm nên Đất Nước muôn đời”, Đất nước “to đẹp hơn đàng hoàng hơn”. Lúc có chiến tranh phải đem xương máu để bảo toàn Sông núi. “Gắn bó, san sẻ, hóa thân” cho Đất Nước, ấy là nghĩa vụ cao cả thiêng liêng, ấy là tình yêu Đất Nước của “anh và em” hôm nay, của thế hệ Việt Nam “Mai này con ta lớn lên”…

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ