Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn

Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn
3 (60%) 4 votes

Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn – Bài làm 1

Trong văn trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc hơn cả. Ông để lại khối lượng văn chính luận khá đồ sộ, trong đó Bình Ngô đại​ cáo được coi là áng “thiên cổ hùng vàn” bậc nhất trong văn học chữ Hán cổ điển nước ta.

Có thể hiểu “thiên cổ hùng văn” là áng văn hào hùng muôn đời. Trước Nguyễn Trãi, thời Lí Trần đã có những áng văn chính luận nổi tiếng như Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn). Nhưng chỉ đến Bình Ngô đại cáo, tính chất hùng ca mới được thể hiện một cách toàn diện từ nội dung tư tưởng đến các hình thức nghệ thuật. Âm hưởng hùng tráng của sáng tác được khởi đầu từ chính nhan đề Bình Ngô đại​ cáo. Đại cáo không phải là bài cáo thông thường mà là bài cáo mang tính chất quốc gia trọng đại. Bình Ngô đại cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Tính chất hùng tráng còn được thể hiện trong qui mô, bố cục của bài cáo. Dễ dàng nhận thấy Bình Ngô đại​ cáo là áng văn đài, nội dung lớn, được chia làm bốn đoạn được đánh số như trong văn bản, mỗi đoạn đều có trọng tâm. Đoạn thứ nhất khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập của dân tộc; đoạn thứ hai tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh; đoạn thứ ba kể lại diễn biến cuộc chiến từ mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước; đoạn thứ tư tuyên bố kháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử.

Bình Ngô đại​ cáo xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” còn bởi nó chứa đựng một tư tưởng lớn lao của Nguyễn Trãi. Xuyên suốt chiều dài tác phẩm là tư tưởng nhân nghĩa. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là yên dân, giúp dân trừ bạo, nhân nghĩa là chống xâm lược. Đạo quân vì dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm cũng chính là đạo quân nhân nghĩa:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…

Trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã phơi bầy tội ác của các thế lực phản động và bè lũ xâm lược:

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tờ bán nước cảu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Chắc hẳn khi viết những dòng văn này, Nguyễn Trãi phải đau đớn và căm phẫn lắm! Tấm lòng nhân nghĩa của ông không thể dung thứ cho tội ác tây trời không thế thờ ơ tmđc tình cảnh muôn dân, bị đày doạ khủng khiếp như thế. Và càng xót thương muôn dân bao nhiêu, con người ấy lại càng mài sắc ý chỉ đấu tranh tiêu diệt quân xâm lược bấy nhiêu. Lúc này, nhân nghĩa trờ thành kim chỉ nam cho mọi hành động của đội quân điếu phạt:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Chiến đấu vì đại nghĩa nên đạo quân Lam Sơn luôn là đạo quân bách chiến bách thắng. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn là sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa hợp nhất với sức mạnh của lòng yêu nước. Thế cho nên, hai lần cất quân xâm lược nước ta cũng là hai lần giặc Minh nhận những đòn thua thảm bại:

Cứu binh hai đạo tan tành quay gót chẳng kịp;
Quán giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.
Tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;

Trước sự cầu xin tha tội của quân giặc, quân ta cũng không truy sát đến cùng mà thể lỏng trời (…) mở đường hiếu sinh. Thực chất, hành động nhân nghĩa đó còn có cội nguồn từ suy nghĩ để dân được nghỉ ngơi dưỡng sức: Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Như vậy, nhân dân là động lực, là sức mạnh, là đích đến của mộc chiến và nhân nghĩa chính là tư tường bao trùm lên toàn bộ động lực, sức mạnh, mục đích đó. Có thể nói cả bài cáo là khúc ca hùng tráng về tư tưởng nhân nghĩa.

Trong bài cáo, Nguyễn Trãi đã dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đặc điểm bút pháp anh hùng ca.

Chiến thắng của ta, sức mạnh của ta, sự thất bại thảm hại của quân giặc và khung cảnh chiến trường, tất cả đều được biểu hiện bằng những hình tượng phong phú, đa dạng, đo bằng sự lớn rộng, kì vĩ của thiên nhiên:

– Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
– Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
– Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm;
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
– Ghé gớm thay sắc phong văn phải đổi,
Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ.

Về mặt ngôn ngữ, trong nguyên văn cũng như bản dịch, các động từ mạnh liên kết với nhau thành những rung chuyển dồn dập, dữ dội. Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa tạo thành hai mảng trắng, đen đối lập, thể hiện khi thể chiến thắng của ta và sư thất bại của địch. Câu văn khi dài, khi ngắn, biến hoá linh hoạt trên nên nhạc điệu dồn dập, sảng khoái. Âm thanh giòn giã hào hùng như sóng trào,bão cuốn. Đó là nhịp điệu của triều dâng, sóng dậy hết lớp này đến lớp khác:

Ngày mười tám…
Ngày hai mươi…
Ngày hăm lăm…
Ngày hăm tám…

Đó là nhịp của gió lay, bão giật, trận này nối tiếp trận khác:

Gươm mài đá, / đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, / nước sông phải cạn.
Đánh một trận, / sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận, / tan tác chim muông…

Chính bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca này kết hợp với tư tưởng lớn lao, vĩ đại đã mang đến tính hùng tráng cho Bình Ngô đại​ cáo, đưa bài cáo lên vị trí “thiên cổ hùng văn”.

Sau Bình Ngô dại cáo, văn học trung đại còn xuất hiện nhiều áng văn nghị luận khác nhưng có lẽ không sáng tác nào vượt lên được nó ở tính chất hùng tráng đó. Đọc áng “thiên cố hùng văn” này, chúng ta mới phần nào cảm nhận được sức mạnh hơn mười vạn quân từ mỗi trang nghị luận của nhà tư tưởng, nhà văn kiệt xuất Nguyễn Trãi.

Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn – Bài làm 2

“Bình ngô đại cáo” là áng “thiên cổ hùng văn” bậc nhất trong văn học chữ Hán cổ điển nước ta, là bản anh hùng ca bằng thể văn biền ngẫu, nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa, kể tội quân xâm lược, ngợi ca anh hùng, hào kiệt và võ công trừ bạo của dân tộc ta.

Bài đại cáo còn là khúc trữ tình thiết tha trước nổi đau mất nước, chứa chan niềm tự hào dân tộc và niềm vui chiến thắng. Cáo là một thể văn cổ có từ thời xưa, hoàng đế thường dùng để bổ nhiệm, phong tặng, bảo ban các quan, toàn dân, được gọi là “cáo mệnh”, “cáo phong”, “cáo giới”… đại cáo vốn là tên một thiên trong Thượng thư do Chu Công làm để tuyên bố việc phò tá Thành Vương., phế bỏ nhà Ân, sau trở thành thể laọi văn học công bố sự kiện trọng đại cho thiên hạ biết. đặt tên bài văn này là “bình ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi vừa mún dùng lại tên Đại cáo để công bố đạo lớn, vừa tỏ ý đi theo truyền thống nhân nghĩa lâu đời. Bình là đánh dẹp, Ngô là tên nước cũ thời Tam quốc. Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương dấy binh ở đất Giang Tô, lúc đầu xưng là Ngô quốc công, do vậy quân nhà Minh được gọi là quân Ngô. Tên bài này có nghĩa là tuyên bố về sự nghiệp đánh dẹp giặc Ngô.

Là một thể văn như có tính quan phương, ko nhất thiết bài cáo nào cũng có giá trị văn học. Nhưng vì tầm tư tưởng lón lao, sự kiện trọng đại và lời văn hùng hồn, khảng khái, bài “bình ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi làm thay lời Lê Lợi đã trở thành một thiên anh hùng ca bằng văn tứ lục.

Mở đầu bài cáo, tác giả tuyên bố ngay lập trường chính nghĩa của mình:

“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Hai câu này có nghĩa là: việc nhân nghĩa cốt làm cho nhân dân được yên, mà muốn cho dân yên thì trước hết fải lo tiêu diệt quân tàn bạo. tư tưởng đó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử VN. Cho nên, tiếp theo, bài cáo nhắc lại truyền thống “yên dân trừ bạo” của các triều đại “từ triệu Đinh , Lí, Trần bao đời gây nên độc lập”, đời nào cũng có hào kiệt đứng lên trừ bạo để yên dân. kết wả là Lưu Cung đời Hán thất bại, Triệu Tiết của Tống tiêu vong. Toa Đô, Ô Mã đời Nguyễn kẻ bị giết, người bị bắt. đáng chú ý ở đoạn này là ngay từ đầu Nguyễn Trãi khẳng định đó là truyền thống văn hoá Đại Việt. “Đại Việt” là quốc hiệu của nước ta thời Lí, thời Trần. Đời nhà Đinh đặt quốc hiệu là “đại Cồ Việt” cũng theo tinh thần đó. Đồng thời ông cũng khẳng định mỗi đằng “làm đế một phương”, đối chọi với Bắc đế, nối tiếp truyền thống của Lí Nam Đế, Lí Thường Kiệt đời trước. như vậy, bài đại cáo mở đầu ko chỉ với tư tưởng nhân nghĩa, mà còn với tư thế của một quốc gia có chủ quyền. Phần mở đầu nhằm khẳng định sự ngiệp Lê Lợi là sự kế tục vẻ vang của các truyền thống đó.

Phần hai của bài nói đến tội ác của giặc và tình cảnh khốn khó của nhân dân và Đất nước dưới ách thống trị của giặc Minh. Cuộc đánh dẹp nào cũng phải có lí do, mà lí do chính đáng nhất là tội ác của quân thù và nỗi khốn khó của nhân dân. Tác giả đã dùng mười hai cặp đối để tố cáo kẻ thù và phơi bày nổi khổ nhục của nhân dân. Đáng chú ý nhất là tính chất huỷ diệt tàn bạo tột cùng của quân xâm lược:

“Nướng dân đen trên ngọn lừa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

“Dân đen”, “con đỏ” là hình ảnh ước lệ chỉ người dân trăm họ, vô tội. Quân giặc xem dân ta như dê, như cừu, mặc sức tàn hại. Chúng dối trời, lừa dân, gây binh, tính ác trong hai mươi năm làm cho nhân nghĩa bại hoại, đất trời tan nát. Không có gì không bị huỷ diệt tàn bạo:

“Nặng thuế khoá sạch ko đầm núi”
Vét sản vật, bắt dò chim sá, chốn chốn lưới chăng
Nhìu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cặm đặt”

“Tàn hại cả giống côn trùng, cây cỏ”
Tan tác cả nghề canh cửi…”

Số phận thê thảm của nhân dân được nhắc tới với một tình cảm xót thương sâu nặng:

"Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc”.
“Nặng nề những nỗi phu phen”
“Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng”.

Tác giả đã khắt hoạ một bức tranh khái quát về tội ác chống chất của kẻ thù, mà “Trúc Nam Sơn ko ghi hết tội”, “Nước Đông Hải ko rửa hết mùi”.

Người xưa chép sách và thẻ tre. Tội ác của giặc Minh cho dù chặc hết trúc Nam Sơn cũng ko ghi hết tội. “Khánh trúc nam thư” là thành ngữ của Lã Thị Xuân Thu, người Trung Quốc thường dùng để kể tội ác quân giặc trong các bài thơ, hịch, ở đây dùng để vạch tội ác giặc Minh, thật là đắc dụng. Đoạn kể tội kẻ thù được kết thúc bằng vế đối vang dội, đầy tính kích động như một lời hịch:

“Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần dân chịu được”

Phần thứ ba của bài cáo là công bố wá trình dấy binh và kháng chiến thắng lợi. Đây là phần trữ tình và sảng khoái nhất của bài văn.

Đoạn một của phần này gồm mười lăm cặp đối nói về ý thức sứ mệnh và buổi đầu dựng nghiệp khó khăn của Lê Lợi. Tác giả đã xây dựng nên hình ảnh người anh hùng dân tộc, một hình tượng trữ tình cao cả, thống nhất.

Bằng phương thức tự giới thiệu, bài đại cáo khắc hoạ tấm lòng, chí khí, tài trí, mục đích đầy nghĩa của Lê Lợi. Bằng một loạt vị ngữ, đoạn văn thể hiện thế giới nội tâm phong phú. Một lời tự giới thiệu thật dõng dạc:

“Ta đây
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình”

Một ý thức sứ mệnh tự giác xem mối thù của nước, nỗi đau của trăm họ như của chính mình, ngày đêm canh cánh bên lòng suốt hai mươi năm.

“Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề ko cùng sống
Đau lòng nhức óc, chóc đã mười mấy năm trời
nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối”

“Quên ăn, quên ngủ, cả trong mộng cũng lo việc lấy lại nước nhà:
Những trần trọc trong cơn mọng mị
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi”

Những hình ảnh “nếm mật nằm gai”, “quên ăn vì giận”, “trần trọc trong cơn mộng mị” làm nhớ tới gương chịu đựng gian khổ, nung nấu ý chí chiến đấu vì đại nghĩa.

Những nỗi gian nan, khó nhọc buổi đầu như thiếu người, thiếu quân, thiếu lương thảo đã thử thách tinh thần nhẫn nại, đức quý trọng hiền tài và khả năng tập hợp của Lê Lợi. Người tài như sao buổi sớm, như lá mùa thu, vốn rất hiếm, còn tấm lòng cầu mong của Lê Lợi cũng rất chân thành “Cổ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả”.

Bên trái là chỗ ngồi tôn quý mà Nguỵ công tử Tín Lăng Quân dành để mời người gác cửa thành là Hậu Doanh cộng tác với mình. Nhưng càng chờ đợi, “người càng vắng bóng”, và vai trò chủ động của minh chủ Lê Lợi càng nổi bật.

Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối. Cuối cùng, người anh hùng đã tập hợp được nhân dân dưới cờ đại nghĩa của mình, tạo thành một khối đoàn kết tuyệt đẹp:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc, ngọn cớ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ từ, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Hình ảnh “dựng cần trúc làm cờ” nói lên tích chết cuộc khởi nghĩa của nhân dân, đừng lên vì nghĩa lớn. hình ảnh “hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” thể hiện tinh thần đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi.

Đồng thời Lê Lợi đã có một chiến lược, chiến thuật hết sức đúng đắn:

“Thế trận xuất kì, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều”.

Đoạn hai của phần bài kể về cuộc phản công thắng lời. Đây là đoạn hào hứng, sảng khoái của bài cáo: nhưng thắng lợi liên tiếp, giòn giã, được kể ra với một giọng hả hê, tự hào. Ở đây tiếp tục xuất hiện hình tượng người lãnh tự thao lược, hình tượng uy lực của nghĩa quân, nhưng nổi bật nhất là hình ảnh thất bại nhục nhã của quân giặc.

Tác giả không giản đơn kể lại bản tin chiến sự hay bản tổng kết chiến thắng mà còn đem lại niềm tự hào về sức mạnh chính nghĩa:

“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”

Loading...

Lê Lợi “thay trời hành đạo”, tự cảm nhận được uy lực của nghĩa quân mạnh như uy trời, không một sức mạnh nào chống đỡ được:

“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn
Đánh một trận, sạch ko kinh ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông
Cơn gió trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”

Các hình ảnh “đá núi mòn”, “nước sông cạn”, “sạch ko kinh ngạc”, “tan tác chim muông”, “trút sạch lá khô”, “sụt toang đê vỡ” gọi lên một sức công phá mạnh mẽ, phi thường của nghĩa quân và sự sụp đổ ko cách gì chống đỡ được của quân giặc. Đó là những ẩn dụ thể hiện quy mô vũ trụ, khổng lồ của sức mạnh chính nghĩa.

Cùng với các hình thức khổng lồ, hùng vĩ và hình tượng về nhịp độ chiến thắng mau lẹ như trúc chẻ ngói tan khiến địch trở tay không kịp, cách vài ngày một chiến thắng, cách vài ngày giết một tướng giặc.

Hình ảnh thất bại của quân giặc thể hiện rõ rệt nhất cho sức mạnh của quân ta. Những kẻ sống thì kinh hồn bạt vía:

“Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía
Lí An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân” 

“Đô Đốc Thôi Tụ lê gối dâng sở tạ tội
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng”

Kẻ chết thì sông máu núi thây:

“Ninh kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chết đầy nội, nhơ để ngàn năm…”

“Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá thây chất thành núi, có nội đầm đìa máu đen…”

Ở đây, sự thất bại của quân giặc cũng mang tầm cỡ vũ trụ: “vạn dặm”, “nghìn năm”, “núi”, “sông”, “có nội”.

Hình ảnh Lê Lợi điều binh khiển tướng khẩn trương, sáng suốt, chủ động, mau lẹ, túc trí đa mưu.

Trái với kẻ thù đã “trí cùng lực kiệt”, Lê Lợi phát huy chiến thuật “mưu phạt, tâm công”. “chẳng đánh mà người chịu khuất, ta nay mưu phạt, tâm công”. Cả câu này ko chỉ nói chiến thuật mà còn nói về chiến lược: Lê Lợi ko muốn dùng vũ lực để đánh, mà muốn “phạt mưu, tâm công” trước. nhưng quân giặc thất bại cũng ko biết hối cải, còn bày thêm mưu kế, chuốc tội gây oan, cho nên Lê Lợi mới đánh đuổi đến cùng. Đến đây, Lê Lợi bộc lộ một thiên tài quân sự lỗi lạc:

“Thùa tướng ruỗi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại
Tuyển binh tiến đánh. Đông Đô đất cũ thu về”

“Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực”.

Ta đánh thắng nhưng ko hiếu sát, ko hiếu chiến, mà rộng lòng hiếu sinh, yêu hoà bình, lập kế lâu dài.

“Tường giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
…………………
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”

Quân giặc tha về vẫn còn kinh hồn, bạt vía, tạo thành âm vang lâu dài của chiến thắnt vĩ đại.

Tóm lại, tác già ko chỉ thuật lại chiến thắng, mà chủ yếu khắc hoạ uy vũ của chiến thắng, tầm vóc của chiến thắng, ảnh hưởng lâu dài của chiến thắng và nhất là vẻ đẹp của nhân nghĩa, trí dũng của ng` chiến thắng. những đặc điểm này đem lại màu sắc anh hùng ca cho bài cáo.

phần cuối cùng bày tỏ niềm tin vào nền hoà bình lâu dài của đất nước, cảm ơn trời đất, tổ tiên phù hộ.

Bài “Bình ngô đại cáo” ko chỉ hay vì phản ánh chiến thắng oanh liệt, thể hiện tầm vóc lớn lao của tư tưởng nhân nghĩa, mà còn hay vì ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu. trong bài văn này, các cặp đối tề chỉnh, nhịp văn tứ lục đã phát huy tác dụng thẩm mĩ cao độ trong việc xây dựng những hình tượng kì vĩ mang tính chất sử thi, thấm nhuần những tình cảm lớn của dân tộc. Bình Ngô đại cáo qiả là một thiên anh hùng ca bằng văn biền ngẫu.

Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn – Bài làm 3

Đến thế kỉ XV, triều đại nhà Hồ bước sang giai đoạn suy vong, thối nát. Chính sách cai trị bất công, hà khắc khiến cho lòng dân oán hận. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra chống lại giai cấp thống trị đương thời. Mượn cớ giúp nhà Hồ dẹp loạn, nhà Minh (phong kiến Trung Quốc) đã kéo quân sang xâm lược nước ta. Hơn hai chục năm, chúng ra sức giết người, cướp của, gây bao tội ác. Lê Lợi, người anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã đứng lên tụ nghĩa, đánh đuổi ngoại xâm, giành chủ quyền độc lập.

Năm 1428, đất nước sạch bóng quân thù. Nguyễn Trãi thay lời nhà vua viết nên bài cáo này, tuyên bố cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo đã hoàn toàn thắng lợi. Từ nay, nước Đại Việt ta bước vào giai đoạn hòa bình, yên ổn. Với giá trị nội dung, tư tưởng lớn lao, sâu sắc và giá trị nghệ thuật độc dáo, bài cáo đã được đánh giá là một áng thiên cổ hùng văn của nền văn học nước nhà.

Bình Ngô đại cáo là khúc ca hùng tráng về lòng yêu nước. Tính chất hùng tráng thể hiện rõ trong từng câu, từng chữ, từng ý nghĩa của bài cáo, gây xúc động mạnh mẽ và thấm thìa trong tâm hồn người đọc. Sau bài thơ “Thần” của Lí Thường Kiệt thì bài Bình Ngô đại cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam.

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cỗi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Nguyễn Trãi khẳng định Đại Việt là nước có chủ quyền độc lập hẳn hoi chứ không phải là một quận, huyện, hay một nước chư hầu của phong kiến phương Bắc. Nước ta có độ dày của nền vàn hiến, có bờ cõi riêng, ngang hàng với các quốc gia khác. Điều khẳng định mạnh mẽ này nói lên lòng tự hào, tự tôn dân tộc lớn lao, không một thế lực nào có thể phủ nhận nổi. Nếu cố tình xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng ấy, quần xâm lược dù mạnh đến đâu cũng phải chuốc lấy thất bại nhục nhã. Nguyễn Trãi nhắc lại những chiến công vang dội xưa kia để làm cơ sộ vững chắc cho điều mình khẳng định ở trên:

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi.

Nhưng quân xâm lược luôn nuôi ý đồ xâm chiếm nước ta nên chúng cố tình quên những bài học lịch sử đó. Năm 1407, giặc Minh ồ ạt đem quân hòng cướp nước Việt. Chúng gây ra bao tội ác, trời không dung, đất không tha, khiến lòng người sôi sục căm giận.

Bài cáo là lời kết tội đanh thép:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế Gây binh kết oán trải hai mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…

… Độc ác thay, trúc Lam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha Ai bảo thần dân chịu được.

Trước những tội ác chồng chất của. giặc như vậy, chúng ta chỉ có một con đường: đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để cứu nước, an dân. Xót xa trước cảnh nước mất, nhà tan, Lê Lợi – người anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã phất cờ khởi nghĩa:

Ta đây núi Lam Sơn dấy nghĩa,

Chốn hoang dã nương mình.

Ngẫm thù lớn há đội trời chung,

Căm giặc nước thề khôĩig cùng sống.

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn,

Ta gắng chí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Sức mạnh của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược như được nhân lên gấp bội bởi chính nghĩa và mục đích cao cả của nó: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo. Sự đoàn kết một lòng giữa nghĩa quân, tướng sĩ đã tạo nên cái thế tấn công như vũ bão, vượt qua mọi thiếu thốn gian nan, giáng trả quân xâm lược những đòn đích đáng:

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đã hăng,

Quân thanh càng mạnh.

Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất củ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm,

Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Lời văn hào hùng sảng khoái, nhịp điệu sôi nổi, dồn dập khi kể về những thất bại thảm hại của giặc:

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thè.

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu.

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong.

Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kê tự vẫn.

…Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội.

Thượng Thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng…

Cửu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.

Tư thế của quân dân ta lúc ấy là tư thế của người chiến thắng đứng trên đầu quân thù. Dân tộc Đại Việt vốn có truyền thống đạo lí lấy chữ nhân làm gốc. Ta đánh giặc vì nhân, ta tha mạng sống cho tàn binh giặc cũng vì nhân:

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.

Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà vẫn hồn bay phách lạc.

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,, về đến nước mà vẫn tim đập chân run

Họ đã tham sống sợ chết mà hóa hiểu thực lòng Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức.

Niềm tự hào to lớn trước chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thể hiện rõ trong từng câu của đoạn kết:

Xã tắc từ đây vững bền,

Giang sơn từ đây đổi mới.

Càn khôn bĩ rồi lại thái,

Nhật nguyệt hối rồi lại minh.

Muôn thuở nền thái bình vững chắc,

Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu…

Một cỗ y nhung chiến thắng, nền công oanh liệt ngàn năm,

Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.

Nội dung bài cáo là một khúc ca hùng tráng. Chất hùng tráng ấy được thể hiện dưới một hình thức trang trọng và phù hợp. Nghệ thuật đối trong bài cáo rất chỉnh, có thể coi là mẫu mực. Ý đối ý, lời đối lời, thanh đối thanh tạo nên âm điệu dồn dập, gợi cảm xúc phấn khích. Chất hiện thực và trữ tình bay bổng hòa quyện trong từng hình ảnh tiêu biểu, chọn lọc, giàu tính gợi tả khiến cho bài cáo có vẻ đẹp của một bức tranh hoành tráng:

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đã hăng,

Quân thanh càng mạnh…

Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất củ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,

Ảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ…

Khí thế như vũ bão của nghĩa quân được tác giả so sánh với:

Gươm mài đá, đá núi củng mòn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận sạch không kình ngạc,

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to quét sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Sự thảm bại của giặc hiện lên như vẽ, như khắc:

Bị ta chẹn ở Lê Hoa, quân Vân Nam hồ đồ sợ bóng mà vỡ mật.

Nghe Thăng thua ở cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo ỉên nhau để chạy thoát thân.

Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc.

Thành Đan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi. giáp ra hàng.

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng…

Bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật trên, tác giả còn sử dụng phép liệt kê, tăng cấp để nhấn mạnh ý cần khẳng định mà đoạn kể về các thất bại to lớn và liên tiếp của quân Minh là một ví dụ điển hình.

Mặc dù ra đời cách đây đã năm thế kỉ, nhưng cho đến nay, Bình Ngô đại cáo vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của một áng thiên cổ hùng văn làm rạng rỡ nền văn học nước nhà. Nó khẳng định truyền thống, anh hùng bất khuất của dân tộc ta, đồng thời thể hiện tầm vóc lớn lao của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi.

Chứng minh Bình Ngô đại cáo là một áng Thiên cổ hùng văn – Gợi ý

1. Mở bài

-Hoàn cảnh ra đời của Bình Ngô đại cáo.

-Nhận xét chung về giá trị bài cáo.

2. Thân bài

a. Tính chất hùng tráng của bài cáo the hiện ở nội dung

+ Thể hiện ở lời tuyên bố hùng hồn về 'hủ quyền độc lập, về độ dày lịch sử của nền văn hiến nước nhà. (Dẫn chứng)

+ Thể hiện ở thái độ căm phẫn, lời tố cáo đanh thép tội ác của quân xâm lược. (Dẫn chứng)

+ Thể hiện ở tinh thần yêu nước và quyết tâm đánh giặc của Lê Lợi cùng các nghĩa quân. (Dẫn chứng)

+ Thể hiện ở khí thế như vũ bão của cuộc chiến đấu chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. (Dẫn chứng)

+ Thể hiện ở sự thất bại ê chề, nhục nhã của quân xâm lược. (Dẫn chứng)

+ Thể hiện ở thái độ khoan dung của người chiến thắng (Dẫn chứng)

+ Thể hiền ở lòng tự hào to lớn trước chiến thắng vẻ vang của công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. (Dẫn chứng)

b. Tính chất hùng tráng thể hiện trong nghệ thuật

+ Thể loại phù hợp với việc diễn tả nội dung hào hùng. (Dẫn chứng)

+ Nghệ thuật đối rất chỉnh. (Dẫn chứng)

+ Nghệ thuật sử dụng hình ảnh tiôu biểu, chọn lợc, có sức miêu tả khái quát cao. (Dẫn chứng)

+ Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu khả năng gợi tả. (Dẫn chứng)

+ Nghệ thuật liệt kê, tăng cấp, nhấn mạnh ý cần khẳng định. (Dẫn chứng)

3. Kết bài

– Bình Ngô đại cáo xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn của đất nước ta.

– Nó khẳng định truyền thống anh hùng, bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta.

– Nó thể hiện tầm vóc lớn lao của Nguyễn Trãi – nhà yêu nước – nhà văn – nhà thơ lớn của dân tộc.

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ