Văn hay lớp 7

Nêu xuất xứ, chủ đề, thể thơ bài ‘Côn Sơn ca’của Nguyễn Trãi

Nêu xuất xứ, chủ đề, thể thơ bài ‘Côn Sơn ca’của

Hướng dẫn

Xuất xứ:

Nhiều bài thơ trong ‘ức Trai thi tập’, ‘Quốc âm thi tập’, Nguyễn Trãi đều nói đến Côn Sơn ‘quê cũ’ của mình. Đọc bài thơ, ta biết ông viết ‘Côn Sơn ca’ sau khi đã thoát vòng danh lợi, về ở ẩn tại suối rừng Côn Sơn. ‘Côn Sơn ca’ nằm trong phần cuối tập thơ chữ Hán ‘ức Trai thi tập’.

Chu đề:

‘Côn Sơn ca’là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp có suối, đá, trúc, thông để nhà thơ di dưỡng tinh thần, đồng thời nói lên những suy nghĩ về danh lợi, về hiền ngu, về nhục vinh trong cuộc đời, qua đó đề cao triết lí thanh trong sạch. Có

thể nói ‘Côn Sơn ca’là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời.

Thể thơ:

‘Cồn Sơn ca’gồm có 30 câu thơ chữ Hán, trong đó thơ 4 chữ có bốn câu; thơ 5 chữ có tám câu; thơ 7 chữ có 14 câu; thơ 8 chữ có ba câu; thơ 10 chữ có một câu.

Bản dịch thơ chỉ có 26 câu thơ lục bát.

Đoạn thơ trích trong’Ngữ Văn 7’ có 12 càu thơ chữ Hán, dịch thành tám câu thơ lục bát.

Chữ Hán: ‘ngô’ là ‘ta’. Phần đầu có 4 chữ ‘ngô’.

– ‘Ngô dĩ vi cầm huyền’

(Ta lấy làm đàn cầm)

– ‘Ngô dĩ vi đạm tịch’

(Ta lấy làm chiếu thảm)

– ‘Ngô ư thị hồ yến tức kì trung’

(Ta tha hồngơi nghỉở trong)

– ‘Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc’

(Ta tha hồ ngâm nga bên gốc)

Lúc cảm thụ, bải thơ các em nên chú ý đến chữ ‘ta’ – nhân vật trữ tình đó.

12 câu đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi.

Phiên âm.

Côn Sơn ca

Nguyễn Trãi

Côn Sơn hữu tuyền,

Kì thanh lãnh lãnh nhiên,

Ngô dĩ vi cầm huyền.

Côn Sơn hữu thạch,

Vũ tẩy đài phô bích,

Ngô dĩ vi đạm tịch.

Nham trung hữu tùng,

Vạn lí thúy đồng đồng,

Ngô ư thị hồ yển, tức kì trung. Lâm trung hữu trúc,

Thiên mẫu ấn hàn lục,

Ngô ư thi hồ ngâm tiếu kì trắc. (…)

Dịch nghĩa.

Côn Sơn có suối,

Tiếng nước chảy róc rách,

Ta cho là đàn cẩm.

Côn Sơn có đá,

Mưa rửa rêu phô biếc,

Ta cho là đệm chiếu.

Trong núi có thông,.

Muôn dặm chiếc lọng xanh rủ bóng, Ta tha hồ nghỉ ngơi ở trong đố. Trong rừng có trúc,

Nghìn mẫu vẻ xanh mát rượi,

Ta tha hồ ngâm nga ỏ bên cạnh.

(…)

Dịch thơ.

Bài ca Côn Sơn

Nguyễn Trãi

Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

Côn Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

Trong rừng thông mọc như nêm,

Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.

Trong rừng có bóng trúc râm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

(…)

(‘Thơ văn chữ Hán Nguyễn Trãi- NXB Văn Hóa, 1962)

Xem thêm:  Bình luận câu tục ngữ: “Có công mài sắt có ngày nên kim”

Gợi ý phân tích

Bài thơ ‘Côn Sơn ca’ rút trong tập thơ chữ Hán ‘ức Trai thi tập’. Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong những năm cuối đời, khi đã về Côn Sơn ở ẩn:

‘Sào, Do bằng có tái sinh,

Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’

‘Côn Sơn ca’viết theo thể điệu ‘ca khúc’ cổ điển, gồm có 36 câu thơ chữ Hán, câu ngắn nhất bôn chữ, câu dài nhất mười chữ, phần lớn là câu ngũ ngôn, thất ngôn. Dịch giả đã chuyển điệu, chuyển thể thành 26 câu thơ lục bát; một bản dịch thơ khá hay về ‘Bài ca Côn Sơn’.

Đoạn thơ sau đây là phần đầu 12 câu trong ‘Côn Sơn ca’ được dịch thành tám câu thơ lục bát nói về vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên Côn Sơn và thề hiện niềm yêu thích, say mê của ức Trai được giao hòa giao cảm với suối, đá và thông, trúc:

‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’

Côn Sơn là dãy núi ở xã Chi Ngại, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tướng công Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư trong dãy núi Côn Sơn. , Nguyễn Trãi đã nhiều năm với và ông ngoại tại đây. Vì thế, nhà thơ coi Côn Sơn là ‘quê cũ’ với bao tình mến thương:

‘Quê cũ nhà ta thiếu của nào,

Rau trong nội. cá trong ao.

‘ (…) Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ,

Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?’

(‘Mạn thuật’ -13)

‘Côn Sơn ca’ là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thê sự, triết lí về cuộc đời, về nhân sinh.

Xem thêm:  Có rất nhiều bạn nhỏ bằng tuổi em nhưng phải rời nhà ra kiếm sống ở các thành phố. Trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên

Đoạn thơ cấu trúc tứ bình, thể hiện vẻ đẹp hài hòa của thiên nhiên: suối, đá, tùng, trúc. Cứ ba câu thơ nồi lên một cảnh đẹp Côn Sơn. Cảnh thư nhất là suối. Tiếng nước chảy cứ róc rách mà nhà thơ thích thú ‘cho là đàn cầm’. Nhạc của suối để mua vui những tháng ngày ở ẩn. Ân dụ ‘đàn cầm’ biểu lộ niềm vui giao cảm với suối, coi suối là mảnh tâm hồn của ‘ta’:

‘Côn Sơn hữu tuyền,

Kì thanh linh linh nhiên,

Ngô dĩ vi cầm huyền’

(Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai)

Cảnh đẹp thứ hai là đá. Đá được mưa xối làm cho phẳng lì, rêu phô màu xanh biếc, ‘ta cho là đệm chiếu’. Đá đã trở thành một phần cuộc đời ức Trai, để làm chiếu thảm, nghỉ ngơi ngồi ngắm cảnh suối rừng. Các từ ngữ ‘Côn Sơn có’, ‘ta cho là…’ được điệp lại hai lần, làm cho nhạc điệu bài ca trở nên du dương trầm bổng, biểu lộ niềm vui thú, say mê. Ân dụ ‘đệm chiếu’ (đạm tịch) thế hiện một tâm thế nhàn:

‘Côn Sơn hữu thạch,

Vũ tẩy đài phô hích,

Ngô dĩ vi đạm tịch’

(Côn Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’

Cảnh đẹp thứ ba là thông. Đã bao đời nay, thông Côn Sơn đã đi vào lịch sử và hồn người. Thông bát ngát như ‘muôn chiếc lọng xanh rủ hóng’, là nơi ‘la tha hồ nghỉ ngơi…’. Bóng thông, màu xanh của thông như chở che. Nhà thơ ngắm thông, đốn với thông với bao niềm vui thỏa thích, tin cậy:

‘Nham trung hữu tùng,

Vạn lí thúy đồng đồng,

Ngô ư thị hồ yểm tức kì trung’

(Trong ghềnh thông mọc như nêm,

Tìm nơi hóng mát ta lên ta nằm)

An dụ ‘muôn dặm chiếc lọng xanh rủ hóng’ là một hình tượng mĩ lệ gợi cảm. Thông tượng trưng cho đấng trượng phu coi thường sương tuyết đã trở thành tri kỉ của nhà thơ.,,

Cảnh đẹp thứ tư là trúc. Trúc Côn Sơn điệp trùng nghìn mẫu, xanh một màu xanh mát rượi. Dưới gốc trúc, bóng trúc, ‘ta tha hồ ngâm nga’. Màu xanh của trúc đã tỏa mát tâm hồn ức Trai. Trúc quân tử đã trở thành tri âm, san sẻ, cảm thông niềm vui nỗi buồn của ‘ta’ trong những tháng ngày về Côn Sơn ở ẩn:

Xem thêm:  Nghị Luận Xã Hội Về Bệnh Thành Tích Trong Học Tập

‘Lâm trung hữu trúc,

Thiên mẫu ấn hàn lục,

Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc’

(Trong rừng có hóng trúc râm,

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’

Nếu phần sau bài ca mang tính triết lí biểu lộ một nhân cáchcao khiết của kẻ sĩ, thì phần đầu lại dào dạt chất trữ tình. Suối, đá, thông, trúc là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân giao hòa giao cảm, để ‘ta cho là đàn cầm’, để ‘ta cho là đệm chiếu’, để ‘ta tha hồ nghỉ ngơi’ trong rừng thông, để’ta tha hổ ngâm nga’ giữa nghìn mẫu trúc. Các ẩn dụ tạo nên những hình tượng mĩ lệ: suối là đàn cầm, đá là đệm chiếu, thông là những chiếc lọng xanh rủ bóng, trúc là nghìn mẫu vẻ xanh mát rượi. Hình tượng thơ là âm thanh của khúc nhạc rừng, là màu xanh bất tận của núi rừng, của thiên nhiên, của sự sống; tất cả đã gắn liền với cảm giác, với tâm hồn ức Trai bằng bao liên tưởng thiết tha đằm thắm. Một cách viết trùng điệp tài hoà. Chữ ‘ta’ xuất hiện bôn lần, kết hợp với các điệp ngũ: ‘Côn Sơn có…’, ‘trong núi có…’, ‘trong rừng có…’, ‘ta cho là…’, ‘ta tha hồ…’ đã tạo nên âm điệu, nhạc điệu trầm bổng, du dương, thiết tha của ‘Bải ca Côn Sơn”.

‘Ta’ là chủ thể trữ tình của bài ca, chính là ức Trai tiên sinh. “Thiên nhiên là ta, ta cũng là thiên nhiên; suối, đá, thông, trúc của Côn Sơn với Nguyễn Trãi chỉ •là một. Chữ ‘ta’ trong thơ Nguyễn Trãi rất hồn nhiên, dung dị và biểu cảm:

‘Ầu lộ cùng ta dường có ý,

Đến đâu thì thấy nó đi theo’

(‘Tự thán’-31)

‘Rùa nằm hạc lẩn vui bè ban,

Ú ấp cùng ta làm cái con’

(‘Ngôn chí – 20)

(Âu lộ: âu là chim biển, lộ là con cò; Cái con là mẹ con)

Nhạc của ‘Bài ca Côn Sơn’ là nhạc của tâm hồn, một tâm hồn thanh cao và trong sạch. Có thể nói ‘Côn Sơn ca’ là bài ca của sự sống; sự sông được ướp hương sắc của suối rừng đất nước quê hương.

Theo Giaovienvan.com

Từ khóa tìm kiếm:

Post Comment