Văn phân tích

Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du

Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong tác phẩm của Nguyễn Du – Bài làm 1

Trong xã hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải là một bậc anh hùng có chí lớn và có nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính vì thế, tuy khi đang sống với Kiều những ngày tháng thực sự êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt "động lòng bốn phương", thế là toàn bộ tâm trí hướng về "trời bể mênh mang", với "thanh gươm yên ngựa" lên đường đi thẳng.

Không gian trong hai câu thứ ba và thứ tư (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hải.

Tác giả dựng lên hình ảnh "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong" rồi mới để cho Từ Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lôgíc không ? Không, vì hai chữ "thẳng giong" có người giải thích là "vội lời", chứ không phải lên đường đi thẳng rồi mới nói thì vô lí. Vậy có thể hình dung, Từ Hải lên yên ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thuý Kiều. Và, có thể khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng và Thúc Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt người yêu về quê hộ tang chú, có sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hi vọng gặp lại rất mong manh vì cả hai đều biết tính Hoạn Thư, do đó gặp lại được là rất khó khăn. Chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, tính chất ba cuộc chia biệt là khác hẳn nhau.

Lời Từ Hải nói với Kiều lúc chia tay thể hiện rõ nét tính cách nhân vật. Thứ nhất, Từ Hải là người có chí khí phi thường. Khi chia tay, thấy Kiều nói :

Nàng rằng : "Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi".
Từ Hải đã đáp lại rằng :
Từ rằng : "Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình".

Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong , vừa động viên, tin tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng. Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự :

Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia".

Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu đuối như Thúc Sinh khi chia tay Kiều. Sự nghiệp anh hùng đối với Từ Hải là ý của sự sống. Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông cậy của người đẹp.

Thứ hai, Từ Hải là người rất trong cuộc sống :

Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì !

Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở về với cả một cơ đồ lớn.

Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt và ngôn ngữ bình dân, dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố, điển tích. Đặc biệt, nhân vật Từ Hải được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hoá. Mọi ngôn từ, hình ảnh và cách miêu tả, Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này.

Về từ ngữ, tác giả dùng từ trượng phu, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng cho nhân vật Từ Hải. Trượng phu nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn. Thứ hai là từ thoắt trong cặp câu :

Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Nếu là người không có chí khí, không có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang nồng ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang hạnh phúc, chàng "thoắt" nhớ đến mục đích, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó phù hợp bản chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ thực hiện được chí lớn thì xứng đáng với niềm tin yêu và trân trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ động lòng bốn phương theo Tản Đà là "động bụng nghĩ đến bốn phương" cho thấy Từ Hải "không phải là người một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương" (Hoài Thanh). Hai chữ dứt áo trong Quyết lời dứt áo ra đi thể hiện được phong cách mạnh mẽ, phi thường của đấng trượng phu trong lúc chia biệt.

Xem thêm:  Viết một đoạn văn nghị luận ngắn về đức hy sinh, trong đó có sử dụng phép nối

Về hình ảnh, "Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi" là một hình ảnh so sánh thật đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn. Không chỉ thế, trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của khi được thoả chí tung hoành "diễn tả một cách khoái trá giây lát phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt". Nói thế không có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ khẳng định rõ hơn chí khí của nhân vật. Hình ảnh : "Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong" cho thấy chàng lên ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn tả được cái cốt cách phi thường của chàng, của một đấng trượng phu trong xã hội phong kiến.

Về lời miêu tả và ngôn ngữ đối thoại cũng có những nét đặc biệt. Kiều biết Từ Hải ra đi trong tình cảnh "bốn bể không nhà" nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ "tòng" không chỉ giản đơn như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải "xuất giá tòng phu" mà còn bao hàm ý thức sẻ chia nhiệm vụ, đồng lòng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn trong cuộc sống. Từ Hải nói rằng sao Kiều chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình không có ý chê Kiều nặng nề mà chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có 10 vạn tinh binh, Kiều tin tưởng Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý hợp, tri kỉ, tri âm.

Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải và khẳng định lại một lần nữa tình cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ chồng.

Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 2

Khát vọng cao đẹp thôi thúc Từ Hải lên đường. Từ Hải đang sống rất ấm êm, viên mãn bên người yêu Thuý Kiều: hương lửa đang nồng. Nồng là nồng ấm, nồng nàn.

Từ lửa và nồng đặt cạnh nhau có ý nghĩa làm nổi bật hình ảnh cuộc sống dang tột đỉnh hạnh phúc. Có được cuộc sống gia đình như thế thật là một mơ ước của Kiều và bao người. Nhưng Từ Hải là một hiệp khách nên không thể tự bằng lòng với cuộc sống bằng phẳng, nhỏ bé, tù túng. 

Từ Hải lại là người thuộc về cuộc đời, được sinh ra để tung hoành nơi bốn biển, đạp nát bất công, xây dựng một xã hội công bằng tốt đẹp như giấc mơ của Nguyễn Du, nên đang trong cảnh yên bình thì chí khí trượng phu bỗng bật dậy thôi thúc chàng thực hiện hoài bão anh hùng: Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Đó là tiếng gọi của sự nghiệp thức tỉnh Từ Hải từ bên trong.

Không gian bốn phương và trời bể mới là nơi đất sống, nơi tráng chí tung hoành: Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo. Nơi ấy đang vẫy gọi người tráng sĩ trở về thực hiện giấc mơ. Và bây giờ sự nghiệp đối với chàng là trên hết. Thanh gươm yên ngựa là lẽ sống, sự nghiệp chính nghĩa cũng bắt đầu từ đây. Ánh mắt đã hướng về chân trời khát vọng và ý chí đã quyết, chàng vung áo bào lên ngựa. Hình ảnh Từ Hải lúc này thật phi thường và đẹp đẽ:

Trông vời trời bể mênh mang,

Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Động tác thật mau lẹ, chí khí thật mạnh mẽ, không dặn dò không lưu luyến. Nhưng…

Cảnh chia li: Thuý Kiều không cản, chỉ xin đi theo:

Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.

Rất bình thản và đầy quyết tâm. Từ một lòng không đơn thuần là lòng thuỷ chung: tâm phúc tương tri mà còn cho thấy nàng có cùng lí tương với Từ Hải. Chữ tòng này không theo quan niệm tam tòng tứ đức của Khổng Tử. Vì tòng phu ở dây là theo chồng đi chinh chiến, là tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ. Thời phong kiến có mấy phụ nữ làm chuyện ấy.

Đã từng là nạn nhân của chế độ thôi nát, bây giờ có , Kiều muôn “góp tay” vào để xoá bỏ ung nhọt xấu xa, trừng trị kẻ bạc ác. Tính cách mạnh mẽ, bản lĩnh của Kiều lần nữa được bộc lộ (lần thứ nhất là hành động tự vẫn trước mặt Tú Bà). Núp bóng phận gái nhưng Kiều không phải là kiểu người an phận. Có trí tuệ, bản lĩnh, lại có khát vọng cao quí nên sau này Từ Hải yên tâm giao phó nhiệm vụ xử án cho Kiều: Từ rằng: “Ân oán hai bên / Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh”.

Từ Hải ngăn cản:

Từ rằng: Tâm phúc tương tri,

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?

Từ Hải trách Thuý Kiều chưa vượt lên khỏi tình cảm thông thường của nữ nhi, Kiều xin đi theo chỉ thêm vướng bận, nhưng liệu Từ Hải có hiểu được Kiều?

Từ Hải hứa hẹn ngày về với thái độ rất mực tự tin:

Bao giờ mười vạn tinh binh,

Tiếng chiềng dậy đất, bóng tinh rợp đường.

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bây giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

Hình ảnh của tương lai với đoàn quân oai hùng như che rợp cả bầu trời hiện ra thật đẹp đẽ. Lúc này sự nghiệp đã thành công thì mọi việc sau đó sẽ Ổn. Từ Hải động viên việc đó chỉ trong vòng một năm thôi. Giọng nói gọn rõ, lời lẽ dứt khoát cũng góp phần thể hiện tính cách phi thường.

Xem thêm:  Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Từ Hải lên dường:

Quyết lời dứt áo ra đi,

Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

Lời và ý đã quyết như dóng đinh vào cột, hành dộng dứt áo như cắt đứt mọi lưu luyến, tâm tư hướng đến mục đích duy nhất. Tất cả làm toát ra cốt cách của người anh hùng.

Câu thơ cuối sử dụng điển tích gợi hình ảnh có vẻ đẹp kì vĩ mang hàm ý so sánh để làm nổi bật sức mạnh phi thường của người anh hùng và khát vọng lớn lao trải ra trên đôi cánh mênh mang của chim bằng trên đường ra biển lớn.

Chĩ một câu thơ mà hình ảnh Từ Hải hiện ra thật đẹp đẽ hào hùng trong cảm hứng anh hùng ca và giàu chất lãng mạn.

Đó cũng là hình ảnh Phan Bội Châu sau này:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật lí tưởng:

– Khát vọng, hoài bão lớn lao: … động lòng bốn phương.

– Lời nói, ngôn ngữ, hành dộng mạnh mẽ dứt khoát: … ta sẽ rước nàng, … là một năm sau, vội gì! Quyết lời dứt áo…

– Hình ảnh ki vĩ lớn lao: trời bể mênh mang, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường.

– Cách dùng từ: trượng phu, thanh gươm yên ngựa, mặt phi thường. 

– Tất cả làm nổi bật hành động phi thường có chiều kích vũ trụ và sự nghiệp anh hùng tung hoành nơi cuộc đời rộng lớn…

Thông qua cảnh chia li, đoạn trích khắc hoạ hình tượng Từ Hải anh hùng có tính cách phi thường và mang khát vọng tự do cao đẹp.

Đoạn trích cũng thể hiện thành công nghệ thuật của Nguyễn Du trong việc thể hiện ngôn ngữ nhân vật và việc khắc hoạ tính cách

Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 3

1. Trong cả thế giới nhân vật đông đảo gồm đủ hạng người của Truyện Kiều, Từ Hải nổi bật lên vì Từ là nhân vật anh hùng duy nhất, người anh hùng mang nhiều nét phi thường. Nhà phê bình Hoài Thanh nói Từ Hải là: giấc mộng anh hùng của Nguyễn Du.

Suốt quãng đời lưu lạc mười lăm năm chìm đắm trong đau khổ, tủi nhục triền miên của Thúy Kiều, thì những ngày tháng gặp gỡ Từ Hải là quãng thời gian tươi sáng, rạng rỡ. Đó là sự gặp gỡ của “trai anh hùng, gái thuyền quyên”; của hai người “tâm phúc tương tri”. Từ Hải chẳng những là người đã đưa Kiều ra khỏi cuộc sống ô nhục ở chốn lầu xanh lần thứ hai, mà hơn thế nữa, chỉ có Từ mới giúp được nàng thực hiện công lí, báo oán trả ân. Đoạn thơ Chí khí anh hùng chỉ tả cảnh Từ Hải từ biệt Thúy Kiều để ra đi, nhưng đã khắc họa nổi bật được vẻ đẹp và tầm vóc lớn lao của người anh hùng. Đoạn thơ hoàn toàn là sự sáng tạo của Nguyễn Du, bởi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân chỉ kể một cách đơn giản là sau một thời gian chung sống, Từ Hải từ biệt Thúy Kiều ra đi, mà không hề miêu tả cuộc từ biệt ấy.

2.    Từ Hải là một anh hùng nên cái cách ra đi của nhân vật này cũng khác thường:

Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Sau khi đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, Từ Hải và Thúy Kiều sống những ngày thật hạnh phúc. Nhưng Từ đâu phải là con người dễ bằng lòng với hạnh phúc nhỏ hẹp dưới “một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”, cũng tức là cuộc sống quẩn quanh trong một không gian nhỏ hẹp, bằng phẳng. Từ là con người của trời đất, của chí khí làm nên nghiệp lớn. Bởi vậy mà mặc dù “hương lửa đương nồng”, nhưng tiếng gọi của bốn phương đã thức dậy mạnh mẽ và đột ngột trong lòng Từ. Hai chữ “thoắt đã” thể hiện sự đột ngột và dứt khoát của tâm trạng nhân vật. Nhưng ngẫm kĩ thì sự đột ngột ấy chỉ là ở bên ngoài, mà thực ra cái chí bôn phương vẫy vùng vốn vẫn nằm sâu trong tâm khảm của bậc trượng phu, chẳng qua nó chỉ tạm lắng lại khi hương lửa của ái tình đang nồng nàn mà thôi.

Giờ đây khi chí khí anh hùng đã được thức dậy trong lòng bậc trượng phu thì không có gì có thể ngăn cản níu giữ người anh hùng được nữa. Thế nên, con mắt và tầm nhìn của Từ lập tức phóng xa về một không gian cao rộng như vô tận: “Trông vời trời bể mênh mang” và đi liền ngay với cái nhìn ấy là hành động cũng rất dứt khoát, mạnh mẽ, mau lẹ: “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”. Hai câu thơ vẽ ra một bức tranh đẹp về tư thế và tầm vóc của người anh hùng Từ Hải: trên một nền cảnh không gian xa rộng có cả trời và bể, nổi bật hình ảnh người anh hùng với một thanh gươm, trên mình ngựa thẳng hướng về phía trước trong tư thế “lên đường thẳng rong”.

3. Chí khí anh hùng của Từ Hải còn bộc lộ đầy đủ hơn trong lời đối đáp với Thúy Kiều trong phút chia li. Trước việc Từ Hải đột ngột lên đường, Kiều biết rằng không thể nào ngăn cản cái chí vẫy vùng của người anh hùng, nên chỉ thỉnh cầu được theo cùng:

Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.

Xem thêm:  Chứng minh câu tục ngữ: Uống nước nhớ nguồn

Trong lời thỉnh cầu ấy, không chỉ có ý thức về đạo “tam tòng” của người phụ nữ thời phong kiến, mà có lẽ hơn thế nữa, còn là mong muôn được cùng chia sẻ mọi điều với Từ Hải, khi chàng chỉ có một mình một ngựa ra đi, dấn thân vào một cuộc phiêu lưu chắc chắn là đầy hiểm nguy. Từ Hải đã đáp lại lời thỉnh cầu của Thúy Kiều như thế nào?

Trước hết, Từ coi việc Kiều xin đi theo là một ý nghĩa chưa thoát khỏi thói “nữ nhi thường tình”. Vả lại, cảnh ngộ của Từ Hải trước mắt, trên con đường dựng nghiệp, là tình cảnh một kẻ “bốn bể không nhà”; bởi thế Kiều có theo đi thì cũng là “theo càng thêm bận biết là về đâu?”. Trong những câu thơ này, còn thấy thoáng hiện lên cái cô đơn của người anh hùng giữa trời đất, thiên hạ. Ngay cả hai câu thơ trước đó: “Trông vời trời bể mênh mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”, bên cạnh vẻ đẹp oai hùng cũng còn thấp thoáng sự cô đơn, lẻ loi của người anh hùng. Nhưng không chỉ ngăn việc Thúy Kiều xin theo cùng, Từ Hải còn ước hẹn với nàng về một tương lai rạng rỡ, khi người anh hùng lập nên sự nghiệp lớn:

Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

Một viễn cảnh thật rạng rỡ, oai hùng, với khí thế rầm rộ của “mười vạn tinh binh”, với “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường” được Từ vẽ ra với tất cả niềm tin chắc chắn. Bởi thế những câu thơ nói về một tương lai mà lại như cảnh tượng ấy đang hiện ra sống động trước mắt với đầy đủ cả âm thanh, màu sắc, sự chuyển động. Đối sánh với hình ảnh ra đi lúc này của Từ – một mình một ngựa, lẻ loi đơn độc trước trời đất và trong thiên hạ rộng lớn – thì mới càng thấy rõ chí khí lớn và niềm tin mạnh mẽ của bậc anh hùng. Chẳng những Từ tin chắc vào cái ngày sẽ “làm cho rõ mặt phi thường” trước thiên hạ, mà còn khẳng định chắc chắn với Kiều về thời gian của cái ngày ấy: “Chầy chăng chỉ một năm sau”. Lời lẽ của Từ Hải thật đúng khẩu khí của bậc trượng phu: dứt khoát, mạnh mẽ và đầy niềm tin vào tài trí của mình. Lời lẽ của Từ Hải chắc chắn đã thuyết phục được Thúy Kiều, đem lại niềm tin tưởng cho nàng trong những tháng ngày phải xa cách đợi chờ.

Sau khi đã tỏ rõ chí khí của mình và thuyết phục được Thúy Kiều, Từ Hải ra đi cũng thật mạnh mẽ và dứt khoát:

Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

Câu thơ trên với ba thanh sắc gần nhau ở câu đầu tạo một nhịp nhanh, mạnh, diễn tả hành động ra đi của Từ Hải thật mạnh mẽ và dứt khoát. Câu thơ dưới với nhiều thanh bằng trải đều cùng với những hình ảnh cánh chim bằng, gió mây, dặm khơi đã vẽ ra một bức tranh rộng lớn, hào hùng. Bút pháp ước lệ tượng trưng của văn chương cổ ở đây có khả năng biểu đạt những hình tượng lớn lao phi thường. Câu thơ cho người đọc hình dung, tưởng tượng hình ảnh cánh chim bằng bay cao vút lên bầu trời cưỡi gió mây, vượt ngàn dặm khơi. Trong văn chương cổ, hình ảnh chim bằng tượng trưng cho khí phách và khát vọng của người anh hùng muốn lập nên sự nghiệp lớn. Trong bài thơ Chim trong lồng, tương truyền của Nguyễn Hữu cầu – một lãnh tụ phong trào nông dân khởi nghĩa ở thế kỉ XVIII, cũng có hình ảnh cánh chim với khát vọng: “Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán/ Phá vòng vây với kim ô”. Còn Tản Đà thì mượn cánh chim bằng để nói về khát vọng tự do: “Gió hỡi gió phong trần ta đã chán/ Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong” (Hỏi gió).

4. Trong Kim Vân Kiều truyện, Từ Hải chỉ là một kẻ làm giặc, một tướng lục lâm tầm thường. Nhưng đi vào Truyện Kiều của Nguyễn Du, Từ Hải đã thành biểu tượng của người anh hùng có khí phách và chí lớn. Từ Hải và Thúy Kiều, hai kẻ ở những tầng lớp bị xã hội phong kiến khinh rẻ nhất, lại được ngòi bút của nhà đại thi hào vẽ nên với những vẻ đẹp cao cả của tâm hồn và khí phách, bằng những lời thơ đầy thiện cảm và ngợi ca không giấu giếm. Trong văn học trung đại, có không ít những hình tượng anh hùng. Thường thì đó là những anh hùng theo lí tưởng của người quân tử trong quan niệm của Nho gia, nghĩa là những tấm gương trung thần nghĩa sĩ. Nhưng Từ Hải – biểu tượng về người anh hùng của Nguyễn Du lại là một kẻ chông lại triều đình, muôn lập một cõi riêng, để thỏa cái chí “chọc trời khuấy nước” của mình. Trong nhân vật này, thấp thoáng hình ảnh của những lãnh tụ các cuộc nổi dậy của nông dân trong thời kì suy vong của xã hội phong kiến.

Đoạn thơ thể hiện tài năng tuyệt vời của Nguyễn Du trong nghệ thuật miêu tả nhân vật, ờ đây là những người anh hùng. Chỉ với mấy nét miêu tả hành động và một đoạn đối thoại mà hình ảnh Từ Hải đã được khắc họa nổi bật với vẻ đẹp phi thường của chí lớn và khí phách anh hùng. Bút pháp ước lệ, tượng trưng, phóng đại sử dụng những diễn đạt ván chương cổ đều rất thích hợp với cách xây dựng hình tượng mang tính lí tưởng hóa về anh hùng, nhằm khắc họa sự lớn lao và phi thường ở họ.

Từ khóa tìm kiếm:

Post Comment