Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong của – Bài làm 1

Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha thì lại rơi vào cạm bẫy của Tú Bà. Nàng đau khổ, tuyệt vọng và tìm cách trốn thoát, nhưng không thể thoát khỏi nanh vuốt của Tú Bà. Vì thương cha, thương em mà nàng cam chịu bất hạnh trong lầu xanh của Tú Bà. “Vui là vui gượng kẻo mà, ai tri âm đó mặn mà với ai’’.

Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích’’ diễn tả tâm trạng thương nhớ của nàng đối với những người thân yêu ruột thịt và nỗi cô đơn của nàng trong đêm trăng trước lầu Ngưng Bích.

Tuổi xuân của nàng đã bị khóa chặt trong lầu Ngưng Bích. Dưới trăng, nàng nhìn thấy cảnh vật mà lòng thêm tan nát :

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn cọ, bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.

Diễn tả cuộc sống tù túng, mất tự do trong lầu xanh dơ bẩn của Tú Bà, tác giả dùng hai chữ “khóa xuân’’ thật là sâu sắc. Bên ngoài là cuộc sống tự do với thiên nhiên hữu tình :

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Cảnh như một bức tranh diễm tình, huyền ảo, bộc lộ tâm trạng của nàng gắn bó với những gì xa xôi, cách trở. Không gian mở ra “bên bờ bát ngát’’, đầy màu sắc “cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia’’ nhìn cảnh vật tươi đẹp nàng cảm thấy “bẽ bàng’’ lòng càng tan nát.

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.

Ngồi một mình thổn thức dưới trăng, nàng tưởng nhớ đến những người thân yêu, ruột thịt. Trước tiên là nàng nhớ đến Kim Trọng, người tình xưa đã từng thề nguyền dưới trăng :

Tưởng người dưới nguyệt chén đông

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Hình ảnh này gợi nhớ lại kỉ niệm giữa nàng và Kim Trọng thề nguyền dưới trăng :

Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miện một lời song song.

Chàng Kim Trọng có biết đâu người yêu của mình bây giờ lưu lạc ở góc biển chân trời :

Bên trời góc biển bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Tình cảm sâu lắng trong lòng nàng còn là nỗi nhớ cha . Người già tựa cửa chờ mong nàng cảm động biết bao :

Xót người tựa cửa hôm mai

Xem thêm:  Để giữ gìn cho môi trường sống của chúng ta luôn xanh, sạch, đẹp... mỗi người chúng ta phải góp phần để bảo vệ môi trường. Em hãy kể chuyện về bảo vệ môi trường của bản thân em hoặc em được biết?

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Nàng lo lắng không ai săn sóc mẹ già, trời nóng ai quạt cho mẹ, trời lạnh ai “ấp lạnh’’ những đêm đông.

Cha thì cũng đã già rồi biết ai người săn sóc.

Một lần nữa ta lại thấy Thúy Kiều là một người con gái có tình, có hiếu. Một như vậy mà rơi vào cảnh bất hạnh thì thật đáng thương.

Thương người tình, thương cha, thương mẹ, rồi nàng lại thương mình. Đây là nỗi buồn của Thúy Kiều trong đêm trăng trước trời bể bao la :

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ?

Buồn trong ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Điệp ngữ “buồn trông’’ tạo ra nhạc điệu du dương cho đoạn thơ, diễn tả được nỗi buồn trào dâng lên trong lòng Thúy Kiều. Hình ảnh nào cũng mang theo một mảnh tâm trạng của Thúy Kiều. Hình ảnh chiếc thuyền với cánh buồm gợi đến, mơ ước tự do của nàng. Hình ảnh “hoa trôi man mác biết là về đâu’’ gợi đến thân phận bèo giạt hoa trôi của nàng. Hình ảnh “Nội cỏ dầu dầu’’ gợi đến tâm trạng xót xa khi nghĩ đến tấm thân nhàu nát của nàng. Và kinh khủng nhất là hình ảnh cuối cùng của đoạn thơ :

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Hình ảnh sóng gió của biển cả đã gợi đến sóng gió cuộc đời vùi dập nàng. “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi’’ là âm thanh dữ dội của sóng bể “trầm luân’’, bể khổ đã vùi dập nàng, cuốn trôi nàng trong dòng đời bất hạnh.

Qua tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đêm trăng trước lầu Ngưng Bích, ta hiểu thêm được phẩm chất cao quý của người phụ nữ tài hoa mà bất hạnh. Nàng giàu tình cảm, yêu tha thiết Kim Trọng nhưng lại phải hy sinh tình yêu để giữ tròn chữ hiếu. Ngồi trước lầu Ngưng Bích nàng cảm thấy đau đớn, xót xa như một bông hoa bị vùi dập. Mỗi hình ảnh là một mảnh tâm hồn đau khổ của nàng. Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật thật là sâu sắc. Xưa nay, người đọc vô cùng xúc động trước tâm trạng dày vò, đau khổ của Thúy Kiều trước lầu Ngưng Bích. Người đọc đồng tình, thông cảm với Thúy Kiều và phẫn nộ với xã hội tàn bạo đã chà đạp lên thể xác và tinh thần của người phụ nữ, chà đạp lên mơ ước tự do của con người.

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 2

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời là một bức tranh tâm trạng có bố cục khéo léo và chặt chẽ hơn. Thiên nhiên ở đây thay đổi liên tục theo tâm trạng của con người. Đặc biệt nhân vật được nói tới ở đây là Thúy Kiều.

Xem thêm:  Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo

Nguyễn Du được xem là bậc thầy về , mỗi câu thơ ông tả nên được xem là chuẩn mực cho vẻ đẹp trong thơ ca cổ điển. Không dừng lại ở đây, ông không chỉ là giỏi về mà cò giỏi về tả tâm tạng của con người. Trong thơ văn ông có hai yếu tố tình cảm và cảnh vật luôn đi liền không tách rời nhau,bổ sung cho nhau.

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình xúc động. Bằng phút pháp tả cảnh ngụ tình thì tác giả đã miêu tả rất rõ tâm trạng của nhân vật một cách xuất sắc nhất. Đoạn thơ đã cho chúng ta thấy rõ nhiều cung bậc tâm trạng của nàng Kiều. Đó là nỗi cô đơn, tấm lòng thủy chung, sự buồn tủi và tấm lòng nhân hậu nàng giành cho Kim Trọng và cha mẹ của nàng.

Kết cấu của đoạn trích phần đầu tác giả cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu ,phần thứ hai trong cô đơn và buồn tủi và cuối cùng là sự đau buồn của Kiều và những dự cảm về bão tố cuộc đời giáng xuống Kiều.

Thiên nhiên trong đoạn đầu được miêu tả với khung cảnh hoang vắng và bao la đến rợn người. Ngồi ở trên lầu cao nhìn núi non trùng điệp, phía trên như ánh trắng sắp chạm tới đỉnh đầu còn ở phía dưới là những dải cát vàng nhỏ bé càng tô đậm thêm sự cô đơn nhỏ bé và lẻ loi lúc này :

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Một không gian mờ mịt và dàn trải hiện ra trước mắt Kiều,không gian ấy càng khiến cho con người ta đau đớn và xót xa biết mấy :

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

Từ “bẽ bàng” cho thấy tâm trạng Kiều lúc này thật sự rất buồn tủi, nàng buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ lại vừa tủi nhục. Và cảnh vật cũng như đang chia sẻ ,đồng cảm với nàng “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Đây chính là bức tranh tâm trạng của Kiều ở những chuỗi ngày tháng cô đơn nhất khi nàng ở lầu Ngưng Bích.

Nỗi nhớ người yêu,nhớ cha mẹ rất xúc động đươc độc thoại trong nội tâm của nhân vật.

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.

Tin sương luống những rày trông mai chờ.

Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.

Lời thơ như chứa đựng sự thổn thức của trái tim đang yêu rỉ máu, nỗi nhớ của Kiều giành cho Kim Trọng như đang rỉ máu,nỗi nhớ của Kiều dành cho Kim Trọng thật sự là rất mãnh liệt . Kiều đang tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang từng ngày mong nhớ mình, nhớ trong đau khổ và tuyệt vọng .Chén rượu thề nguyền vẫn chưa ráo ,vầng trăng giữa trời vẫn chứng giám cho lời thè của cả hai bên vậy mà giờ đây mỗi người một ngả một phương trời,nàng không biết rồi đây sẽ đi đâu và về đâu.Kiều tiếc nuối mối tình đầu đang dang dở và trong trắng của mình và bóng của chàng Kim không hề phai nhạt trong lòng nàng.

Xem thêm:  Em hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ về nụ cười của mẹ

Nhớ người yêu nàng còn xót xa nhớ đến cha mẹ, lòng nàng càng đau thắt,tuy là đã giúp cha mẹ và em thoát khỏi vòng tù tội nhưng mà khi nghĩ về cha mẹ nàng vẫn không nguôi nhớ họ và luôn lo lắng cho tương lai của họ. Nàng lo không biết thời tiết như thế nào, có thay đổi gì không . Nàng lo ai là người chăm sóc cha mẹ già , ai là người quạt cho cha mẹ lúc trở trời trái gió. Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ điển cố để thể hiện tình cảm sâu nặng của người con, của phận làm con. Qua đó cho thấy Kiều là một người con rất mực hiếu thảo.

Nhớ người yêu và cha mẹ nhưng cuối cùng nàng lại bừng tỉnh quay về với thực tại của mình, sống với ngổn ngang những tâm trạng và với thân phận hiện tại của bản thân. Mỗi cảnh vật được hiện lên qua con mắt một nỗi buồn.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốn một nỗi buồn sâu sắc đến khó tả. Mỗi cặp câu đều gợi ra một nỗi buồn,cái buồn nhìn ra xa trông ngóng một thứ gì đó mơ hồ sẽ làm thay đổi tình trạng hiện tại của mình.

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 3

Nếu ai đã từng đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du thì chắc chắn cũng dẽ cảm thông cho cuộc đời của Vương Thúy Kiều . Mối tình đầu vừa chớm nở thì gia đình nàng lại gặp biến cố. Trong cơn hoạn nạn đó nàng đã phải bán mình chuộc cha, không những bị bán vào lầu xanh mà nàng còn bị đánh đập tàn bạo, dã man. và Kiều đã phải ra ở lầu Ngưng Bích trong cơn đau đớn, tủi nhục. Có thể nói Nguyễn Du đặt Kiều trong một hoàn cảnh vô cùng éo le, bức xúc . Và để miêu tả tâm trạng của Kiều, Nguyễn Du đã miêu tả cảnh vật ở lầu Ngưng Bích để làm nổi bật những đau đớn trong cuộc đời đầy sóng gió của Kiều qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích được xem là bức trạnh vịnh cảnh ngụ tình xúc động nhất trong truyện Kiều.

Thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích thật đẹp đẽ, khoáng đạt:

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.

Với vẻ non xa tấm trăng gần, bốn bề bát ngát , cát vàng , bụi hồng…Những đường nét, màu sắc của thiên nhiên nơi đây đan xen tạo nên một bức tranh thủy mặc, tĩnh lặng, đượm buồn.

Loading...

Trước thiên nhiên tươi đẹp ấy. Kiều ở trong một tâm thế khóa xuân cô quạnh, lẻ loi đơn chiếc:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tỉnh nửa cảnh như chia tấm lòng.

Chính cái tâm thế ấy của Kiều đã tạo ra sự đối lập trớ trêu giữa thiên nhiên lớn lao với con người bé nhỏ. Nếu bên ngoài mênh mông, rộng lớn bao nhiêu thì bên trong lại càng chật hẹp, tù túng, giam cầm bấy nhiêu. Nỗi buồn tê tái, cô đơn, chán ngán đã chế ngự và xâm chiếm toàn bộ tâm hồn Kiều.

Trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, nàng nhớ đến người yêu, nhớ đến cha mẹ.

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ
…….
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Nguyễn Du đã đảo trật tự nỗi nhớ để Kiều nhớ đến người yêu trước cha mẹ sau là phù hợp với tiếng lòng nàng Kiều. Trái tim yêu thương , thổn thức rất đời và rất người của . Đây chính là màn độc thoại, da diết, đằm thắm yêu thương và trân trọng đời Kiều.

Cuối cùng nàng nghĩ về bản thân mình với tám câu thơ và bốn cặp câu giống nhau:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn gió mới xa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Điệp từ buồn trông lặp lại trong bốn cặp câu và ở vị trí đầu câu như dồn lại, như ứ đầy, chồng chất những nỗi buồn điệp điệp, sóng dồn trong tâm trạng của cô con gái liễu yếu đào tơ, nỗi buồn xoáy sâu vào tâm can xé nát vụn vỡ từng luồng dẫu bé nhỏ bình dị của nàng.

Từ trên lầu cao, Kiều phóng tầm mắt ra rất xa ngoài cửa biển, nhìn thấy những cánh buồm thấp thoáng này chạnh nghĩ đến cuộc đời và một hành trình lưu lạc mờ mịt xa xăm của mình.

Kiều vội đảo tầm mắt lên một hướng cao hơn hy vọng sẽ kiếm tìm được một niềm vui bé bỏng nhưng lại đập ngay vào tầm nhìn của nàng:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn gió mới xa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Cánh hoa trôi man mác , vô định như thân phận bèo bọt của nàng trên dòng đời đen bạc chưa biết đi đâu về đâu. Cánh hoa ấy tơi tả trước thời gian sóng gió bão bùng như ẩn dụ cuộc đời Thúy Kiều cũng trôi nổi trước lưới trời đang vây bủa, rình rập. Nàng nhìn ra xa hơn tận chân mây mặt đất nhưng nàng chỉ nhìn thấy những nội cỏ dầu dầu vàng úa, nhạt nhòa, sâu thẳm, mờ mịt, xa xăm. Vẫn không thể cắt nghĩa được nỗi buồn của mình, nàng chuyển đổi cảm giác từ nhìn nhận sang nghe ngóng để hy vọng gạt đi được những ưu tư phiền muộn của cuộc đời, nhưng tất cả đều vô vọng.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Nàng thu tầm mắt nhìn của mình về ngay vị trí đang ngồi dưới chân lầu Ngưng Bích thì một âm thanh hãi hùng va đập vào ngay tâm trạng của nàng. Nguyễn Du đã dùng ngòi bút thần tình để mô tả một âm thanh tiếng sóng kêu với bút pháp nhân hóa đặt đúng vị trí không gian thời gian, đúng cả tâm trạng của nàng Kiều. Đây là tiếng sóng đời, sóng lòng đang gào thét giận dữ bủa vây rình rập và muốn nuốt chửng đời Kiều.

Mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên thật đặc sắc tất cả ngoại cảnh ấy đều nhuốm màu tâm trạng của nàng Kiều tan nát rối bời, đau khổ. Mỗi lần nàng vươn lên kiếm tìm một niềm vui, một tia hy vọng thì mỗi lần thiên nhiên cay nghiệt vùi dập, hắt hủi nàng xuống đáy bể trầm vơi và Nguyễn Du đã phải hạ một câu thở đúng với tâm trạng nàng Kiều:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Tám câu thơ với nhiều bút pháp nghệ thuật đan xen và dường như bút pháp nào cũng đạt đến tuyệt đỉnh. Bên cạnh các biện pháp tu từ quen thuộc như điệp từ ngữ, cấu trúc câu, sử dụng các từ láy gợi âm thanh, màu sắc và bút pháp nhân hóa điển hình. Tám câu thơ còn được xem như một bộ tứ bình miêu tả nội tâm nhưng vẫn trữ tình nhìn từ ngoại cảnh.Đặc biệt đây còn được xem là màn độc thoại điển hình nhất trong những trang Kiều, do đó người ta gọi Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh vịnh cảnh ngụ tình đặc sắc , tâm tình xúc động.

Ai đã một lần đọc Kiều, ngâm Kiều, vịnh Kiều chắc chắn phải dừng lại lâu hơn ở đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích. Và đằng sau những câu thơ ấy là cả một trái tim của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Với tấm lòng cô đơn, chia sẻ, nâng đỡ, động viên Kiều giữa đoạn trường tân thanh.

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Gợi ý

1. Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều.

  • Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian.

  • Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:

    • Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng. Hai chữ "khóa xuân" đã nói lên điều đó.

    • Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

  • Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt.

  • Nhìn lên trời cao chỉ có "tấm trăng gần". -> Thời gian chiều tối, gợi buồn.

  • Xa hơn nữa, nhìn ra "bốn bề bát ngát xa trông" là những cát vàng cồn nọ nối tiếp nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

=> Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản "non xa"/"trăng gần", đảo ngữ, từ láy "bát ngát"

-> Gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người. Đối diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn.

  • Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

  • Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết "mây sớm" lại "đèn khuya". Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến "bẽ bàng".

  • Bốn chữ "như chia tấm lòng" diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều.

=> Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.

2. Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.

* Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

  • Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào "đền ơn sinh thành" cho cha mẹ. Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

    • Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng thề nguyền dưới ánh trăng. Chữ "tưởng" ở đây có thể xem là một nhãn tự. Nguyễn Du không dùng chữ "nhớ" mà dùng chữ "tưởng". "Tưởng" vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

    • Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: "Tin sương luống những rày trông mai chờ".

    • Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận "bên trời góc biển bơ vơ" của mình. Kiều băn khoăn tự hỏi: "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai":

  • Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời.

  • Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được?

-> Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

  • Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ: Chữ "xót" diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:

  • Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần

  • Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay.

  • Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

-> Tác giả đã sử dụng các thành ngữ "rày trông mai chờ", "quạt nồng ấp lạnh", "cách mấy nắng mưa" và các điển tích, điển cố "sân Lai, gốc Tử" để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ.

=> Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu.

Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ. Qua đó chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

3. Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

  • Điệp ngữ "buồn trông" được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều. Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

  • Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ.

  • Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu.

  • Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

  • Hình ảnh "gió cuốn mặt duềnh" và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng "kêu quanh ghế ngồi" gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước, chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

=> Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy "thấp thoáng", "xa xa", "man mác","rầu rầu","xanh xanh","ầm ầm"… góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong tâm trạng Kiều. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục.

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ