Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của – Bài làm 1

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học mà Nguyễn Du đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam. Truyện Kiều không chỉ nổi tiếng về ý truyện được thể hiện qua cuộc đời các nhân vật mà còn được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đoạn trích Nỗi thương mình kể về nỗi đau đớn tủi nhục trong quãng đời của Kiều.

Sau khi mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà hành hạ đến mức "Uốn lưng thịt đổ, … dập đầu máu sa", Kiều đau đớn kêu lên: "Thên lươn bao quản lấm đầu – Chút lòng trịnh bạch từ sau xin chừa". Bà Tú đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh từ đó. Đoạn trích Nỗi thương mình đã thể hiện một cách xúc động về nỗi đau đớn tủi nhục thương thân xót phận và ý thức về nhân phẩm của Thúy Kiều bị ép, bị đẩy vào vũng bùn tanh hôi trong xã hội lúc bấy giờ. Đây là cảnh Kiều phải nếm trải trong chốn lầu xanh của mụ Tú Bà:

"Biết bao bướm lả ong lơi;

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh".

Lời thơ thật là chua chát sâu cay, "Biết bao" là không đếm được, tính được, không nhớ hết được những khách hàng Kiều phải phục vụ. Kiều phải tiếp khách làng chơi triền miên: "đầy tháng", "suốt đêm", "sớm đưa", "tối tìm". Phải trải qua "bướm lả ong lơi", phải "sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh". Phải sống trong cảnh "Cuộc vui đầy tháng trận cười suốt đêm". Nguyễn Du đã sử dụng tài tình các ẩn dụ: "Bướm lả ong lơi", "cuộc say", "trận cười", các thi liệu, điển tích: "lá gió cành chim", Tống Ngọc, Trường Khanh để diễn tả hiện thực chốn lầu xanh ngày xưa ấy. Tác giả đã lấy cái nhã, dùng lối nói ẩn dụ để tả cái thô, cái bẩn dưới đáy xã hội thối nát lúc bấy giờ. Cái xã hội mà ở đó không còn chút lương tâm, vì tiền mà đẩy người phụ nữ vào cảnh cùng cực nhất.

Bốn câu thơ trên đã miêu tả chi tiết về cuộc sống của những thân phận phụ nữ ở chốn lầu xanh. Ở lầu xanh có nhiều kĩ nữ, họ có thể bình thản coi việc làm của mình rất đỗi bình thường , trớ trêu thay Kiều lại có một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong trắng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm trướng rủ màn che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ. Vậy nên, hai câu tiếp đã cho thấy tâm trạng của Kiều trong những ngày tủi nhục, nỗi ê chề, sự ép buộc, đày đọa mà Kiều phải chịu đựng:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa”

Những câu thơ tiếp theo thể hiện tâm trạng với những ưu phiền của nàng Kiều khi phải sống trong cảnh dơ bẩn ấy. Các từ ngữ: "giật mình', "thương mình xót xa", "khi sao", "giờ sao" chứa đầy tâm trạng, "tâm trạng đâu khổ". Nghĩ về những ngày còn ở với "phong gấm rủ là", Kiều đau đáu thương cho thân phận mình phải đem nhan sắc làm món hàng cho khách làng chơi. Các điệp ngữ, so sánh ẩn dụ và nghệ thuật tương phản đã nói lên nỗi xót xa đau đớn của Thúy Kiều sau những tháng ngày "bướm lả ong lơi":

"Khi sao phong gấm rủ là

Xem thêm:  Hãy nêu cảm nghĩ của anh/ chị về bài Tiếng gà trưa

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường".

Tác giả đã sử dụng các từ ngữ có tính minh họa rất sắc sảo "khi sao", "giờ sao", tiếp theo lại viết: "mặt sao", "thân sao", lời cảm thán cất lên tê buốt, như những nhát dao cứ cứa vào tim gan vô cùng đau đớn:

"Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!".

Trong đoạn thơ này, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ (gió, sương, bướm, ong) và thủ pháp phân hợp từ ngữ: "dày gió dạn sương", "bướm chán ong chường" để cực tả nỗi tụi nhục của một người con gái bị đẩy vào vũng bùn hôi tanh nhơ nhớp.

Lúc nào Kiều cũng tự ý thức về nhân phẩm của mình. Các từ ngữ "mặc người", "nào biết" đã thể hiện rõ ý thức ấy, đó là tâm hồn thanh cao trong sạch:

"Mặc người Sở mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì?".

Đối với khách làng chơi, những phong lưu "quen thói bóc rời": như Thúc Sinh thì chốn lầu xanh, cõi yên hoa là cảnh thần tiên, là cảnh rộng truy hoan:

"Đòi phen gió tựa hoa kề,

Nửa rèn tuyết ngậm bốn bề trăng thâu".

Trong chốn lầu xanh đó, cuộc sống của nàng Kiều không hề thiếu thốn điều gì. Cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt, tượng trưng cho vẻ đẹp bốn mùa như: xuân có hoa; hè có gió; thu có trăng; đông có tuyết. Nhưng trước những cảnh đẹp đó, Kiều dửng dưng, thờ ơ bởi con tim nàng đã bị nỗi đau khổ quá mức làm cho giá lạnh. 

Chốn lầu xanh dơ bẩn kia không chỉ có phong, hoa, tuyết, nguyệt, mà còn có cầm, kì, thi, họa, là môn nghệ thuật mà nàng Kiều say mê:

"Đòi phen nét vẽ câu thơ

Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa".

Giữa cuộc sống sa hoa đầy đủ như vậy Kiều vẫn dửng dưng và cảm thầy nàng đau khổ, tê tái vì thấy nhục nhã ê chề. Mọi cảnh vật đều nhuốm vẻ sầu thương vì lòng nàng đang đau đáu tủi nhục:

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?".

Phải nói rằng Nguyễn Du có một tài năng phi thường và một tình thương rộng lớn Nguyễn Du mới có thể viết lên hai câu thơ hay nhất về mối liên hệ tương đồng giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và tình trong văn chương Việt Nam từ trước đến nay. 

Giữa chốn lầu xanh ồn ã ngựa xe, Kiều vẫn cảm thấy cô đơn, buồn tủi vì nàng tự ý thức nhân phẩm của mình, nàng nhận thấy cái chốn bẩn thỉu đó không phải là nơi giành cho nàng. Giữa chốn thanh lâu tìm đâu ra "tri âm" nên nàng sống trong tâm trạng "vui gượng". Đó là tâm trạng của một giai nhân "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", một phẩm chất cao đẹp đáng trân trọng ở nàng Kiều.

"Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?".

Cấu trúc tứ bình (phong, hoa, tuyết, nguyệt, cầm, kì, thi, họa) với nghệ thuật tương phản và sử dụng câu hỏi tu từ, nhà thơ đã làm nổi bật tâm trạng đau khổ, tủi nhục, cô đơn của người con gái tài sắc đang vùng vẫy chống chọi lại cảnh đời trụy lạc. Ý thức cao về nhân cách, nhân phẩm của Kiều đã được nhà thơ thiên tài Nguyễn Du cảm thông và trân trọng.

Những vần thơ đẹp đã làm tôn lên giá trị nhân bản đoạn thơ "Nỗi thương mình". Giữa chốn thanh lâu mà Kiều vẫn vượt qua mọi cám dỗ, cố vượt lên cảnh ngộ để giữ lấy nhân phẩm. Vì thế sau 15 năm lưu lạc, Kiều phải trải qua "than lâu hai lượt", nhưng Kim Trọng càng hiểu nàng hơn ai hết:

"Như nàng lấy Hiếu làm Trinh

Xem thêm:  Kể lại một câu chuyện gặp được bà tiên do em nghĩ ra

Bụi nào có đục được mình ấy vay?".

Đoạn thơ thể hiện được cuộc sống của nàng Kiều ở chốn lầu xanh và tâm trạng cô đơn buồn tủi của nàng. Với ngoài bút sắc sảo, tài tình nhà thơ đã cho người đọc thấy được phẩm chất đáng trân trọng của Kiều. Dù bị xã hội xô đẩy, phải sống trong chốn dơ bẩn nhưng nàng không thay đổi suy nghĩ cũng như phẩm giá cao quý của người con gái.

Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 2

Trước khi phải chấp nhận tiếp khách làng chơi, Thuý Kiều đã một lần “tự nhận” là người bội bạc. Đó là với chàng Kim. Do sức ép của đồng tiền, nàng – vì đạo hiếu mà phải bán mình cứu cha. Còn lần này khi vào nhà chứa của Tú Bà, không còn làsức ép của đồng tiền nữa, thay vào đó là áp lực của thần quyền. Ây là bóng ma Đạm Tiên. Đối với Thuý Kiều, bóng ma Đạm Tiên như một sự ám ảnh của định mênh. Gần như người con gái sắc tài toàn vẹn này ở vào bước ngoặt quan trọng nào, bóng ma oan nghiệt ấy cũng hiện ra đúng lúc. Nó vừa đóng vai trò một chứng nhân vừa săn đuổi đến cùng. Lần này cũng thế lúc đầu, Thuý Kiều định tự vẫn, nhưng nó nào đã cho: “Rỉ rằng: nhân quả dỏ dang – Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?Như thế là thần quyền thay thế cho đồng tiền thực hiện cái chức năng công cụ cũng cho một sức mạnh quyền uy vô hình khác cao hơn. Ấy là “trời xanh”. Vì vậy, Thuý Kiều dù không muốn đã phải cúi đầu: “Thân lươn bao quản lấm đầu-Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa Đầu hàng số phận như một thứ con chiên ngoan đạo, Kiều đã phải tự đày đọa mình, lấy thân mà trả nợ đời món nợ truyền kiếp như Đạm Tiên đã trả. Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ nỗi đau đớn của nàng không có cách nào khác hơn là phải đi vào văn bản.

Một trong những thành tựu lớn về tư tưởng và nghệ thuật trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du là ý thức về cái tôi cá nhân. Từ ánh sáng của cái tôi cá nhân đó mà soi rọi vào những cảnh ngộ khác nhau vừa tạo nên một cái nhìn nhất quán trên diện rộng, vừa có độ sâu, tác phẩm văn chương mới có khả năng trở nên một ám ảnh. Trong bối cảnh lịch sử của văn học trung đại (với hệ thống tư tưởng chính thống, với chủ trương phi ngã), “cái tôi” ấy ít có điều kiện nảy sinh và phát triển. Ấy là nói chung. Còn ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với khí thế quật khởi của phong trào nông dân – những người bị áp bức, bị đè nén cả về vật chất và tư tưỏng, một cái gì đó đã bung ra. Nhạy cảm và tiên phong là những trí tuệ bậc thầy vệ nghệ thuật. Bởi họ có trái tim lớn trước khi có một tài năng lớn để xúc động sâu xa, để rồi sau đó biểu hiện (và cả những kí thác) bằng hình tượng, vào hình tượng nhân vật mà họ sáng tạo ra để đối thoại với muôn đời, Nguyễn Du là một trong số không nhiều như thế.

Đối chiếu với cuốn tiểu thuyết chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân, đoạn Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là hoàn toàn thêm vào chứ không có trong cốt truyện. Trong cốt truyện của nguyên bản thay cho lời kể là một bài ca, sau đó Kiều đem phổ nhạc vào khúc Hồ cầm, khi dạo lên ai nghe cũng não ruột. Bài ca kể tóm tắt thân phận nàng Kiều từ khi gia biến đến lúc mắc vào gian kế của Sở Khanh, nhưng tập trung vào lời dạy của Tú Bà về việc tiếp khách làng chơi.

Xem thêm:  Phân tích tâm trạng Nguyễn Khuyến qua bài Thu điếu

Có lẽ cảm quan hiện thực của tác giả Truyện Kiều không chấp nhận sự né tránh, bởi mức độ sỉ nhục với con người như thế vẫn còn là chưa đủ. Phải thêm một trường đoạn đến 58 câu lục bát, người đọc mới hiểu được hết nỗi khổ đau và gắng gượng của Thuý Kiều sau khi vừa thoát được nơi hang hùm miệng rắn này đã rơi vào cạm bẫy lần thứ hai sau đó: “Tiếc thay nước đã đánh phèn – Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!". Cũng cần phải nói thêm, Nguyễn Du không tham kể việc. Chứng cớ là khi nói về cái không gian ô uế đó lần sau, ông chỉ nhắc qua. Điều ấy xác minh bản lĩnh nhà thơ trong việc cầm bút.

Về cấu trúc đoạn thơ hai mươi dòng này có thể có hai cách nhìn: phân chia theo cục bên ngoài và cũng có thể phát hiện ra một thứ mạch ngầm của liên kết bêntrong. Giữa hai cách xem xét đó, thông thường nên theo phương án thứ nhất. Nhưng dù có như thế thì cả hai vẫn phải đạt đến một sự đối ứng cân bằng để việc phân tích được người nghe chấp nhận. Vậy nên chia đoạn như thế nào? Trong một tài liệu hướng dẫn, có người cho rằng nên chia làm hai đoạn (Đoạn một từ câu 1 đến cấu 12: nói nỗi đau xót tủi nhục phải tiếp khách của Kiều. Đoạn hai: phần còn lại nói sự thờ ơ, cô độc của nàng trước thú vui của khách làng chơi). Và hình như người viết cũng phân vân nên mới nhấn vào cái âm hưởng chính: “Cả đoạn cực tả nỗi đau xót, tủi nhục, chán chường của nhân vật trước cuộc sống hèn hạ mà mình phải chịu đựng. Đoạn trích cũng thể hiện phẩm chất của Kiều tuy sống trong môi trường truỵ lạc mà tâm hồn nàng không vẩn đục, không buông thả vào cuộc sống truỵ lạc ấy. Đó là nét đẹp của tâm hồn nàng”.

Tuy nhiên, cách chia đoạn như trên là không hợp lí. Cần phải dồn tất cả các khái niệm như: đau xót, tủi nhục, thờ ơ, cô độc vào phạm trù tâm trạng để tách chúng ra khỏi cảnh ngộ mà nhân vật rơi vào. Như thế sẽ khoa học hơn và thuyết phục hơn. Cụ thể là nên chia đoạn trích làm hai phần: Phần một gồm có bốn câu đầu là cảnh ngộ phải tiếp khách của Kiều ở lầu xanh của mụ Tú Bà, phần hai gồm mười sáu câu còn lại diễn tả tâm trạng của nhân vật trong cảnh sống tủi nhục xót xa. Cách phân chia này có thể không cân đối về hình thức (số lượng), nhưng lại phản ánh được lô-gích của đoạn thơ: có tả cảnh, tả tình nhưng tình được khắc sâu hơn cảnh và từ đó mà nhân vật hiện ra với cả một thế giới nội tâm dồi dào, phong phú. Đây mới chính là tài năng và tâm huyết của nhà thơ.

Trong mười lăm năm lưu lạc của mình, hai lần nàng Kiều phải vào nhà chứa. Nhưng nếu lần thứ hai cảnh ngộ ấy chỉ như một sự kiện. Nguyễn Du không kể nhiều. Chỉ lướt qua một tâm trạng: “Chém cha cái số đào hoa – Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi”. Bởi sự thật, cảnh ngộ này chẳng khác gì lần thứ nhất, vả lại dụng ý của nhà thơ là chuẩn bị cho nàng một chặng đường hoàn toàn khác: gặp người anh hùng Từ Hải. Đó là lí do dẫn đến việc Nguyễn Du miêu tả khá kĩ, khá sâu cả cảnh ngộ và cả tâm trạng của người con gái nhà nề nếp gia phong sa chân vào chốn bùn nhơ nơi lầu xanh của mụ Tú Bà. Cách kể, tả ấy nếu không phải là Nguyễn Du, không ai viết được.

Bốn câu đầu đoạn trích dành cho cảnh tiếp khách làng chơi:

Biết bao bướm lả ong lơi,

Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt dêm

Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.

Loading...

Cái tài của Nguyễn Du là chỉtrong bốn câu mà khái quát được một cảnh ăn chơi, thác loạn điển hình. Như ta biết, Nguyên Du vốn căm ghét cái xấu, cái ác thế nào. Ấy thế mà khi miêu tả cái nơi dơ dáy ấy, nhà thơ không hề sử dụng một bút pháp tả chân nhằm cụ thể hóa. Ngược lại, bằng phong cách cổ điển của văn chương bác học, bằng thủ pháp tượng trưng, ước lệ, tác giả đã gợi ra một không khí rất đặc trưng, về mặt nghệ thuật, có hai đặc điểm nổi bật. Thứ nhất là hình thức cặp đôi của hình ảnh: bướm lả – ong lơi, cuộc say – trận cười, suốt đêm – đầy tháng, lá gió -cành chim, sớm – tối, Tống Ngọc – Trường Khanh. Có lẽ trong Truyện Kiều chưa bao giờ mà biện pháp đối xứng, song hành lại dày đặc, lại ken kín cả bốn câu thơ như thế. Chỉ có hai cụm từ tách ra thì một chỉ số lượng (Biết bao), một chỉ không khí (Dập dìu) thì lại như một sự bổ trợ rất đắc lực cho cảnh đón, đưa không một phút nào dừng. Thứ hai, toàn bộ các hình ảnh ở đây đều nằm trong một môi trường ngược nghĩa. Dùng “trong” để nói “đục”, dùng “sáng” để tả “tối”, lấy cái đẹp đẽ mĩ miều để miêu tả cái nhơ nhuốc, xấu xa. Hình như trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du, ông không tránh né bất cứ một điều gì, kể cả những gì bẩn thỉu nhất. Nhưng không phải vì thế mà có sao nói vậy. Nghệ thuật phản ánh hiện thực nhưng nghệ thuật còn phải sáng tạo hiện thực nữa. Đó mới là thiên chức nhân văn. Nó đòi hỏi một bản lĩnh. Cái tài của Nguyễn Du ở đây là chỉ tảcảnh, không . Thế nhưng bao nhiêu những gương mặt người vẫn thấp thoáng hiện ra đâu đó trong cuộc sống truy hoan. Có cả cái niềm nở, tươi cười của gái làng chơi. Có cả cái hả hê, thoả mãn của khách làng chơi – những kẻ nhiều tiền, hiếu sắc. Từ bốn câu thơ ta nhớ lại lời dạy của Tú Bà cho Thuý Kiều về nghề nghiệp, đúng hơn là kinh nghiệm tiếp khách: “Cởi xiêm lột áo chán chường – Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lẩm rẩm – Đổi hoa lót xuống chiếu nằm – Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi”. Hoặc “Chơi cho liễu chán hoa chê – Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời". Đó là nói về “ong bướm lả lơi”. Còn những người khách thượng lưu đượe gọi là Tống Ngọc, Trường Khanh, ta cũng nhớ đến tài Tì bà hành của Bạch Cư Dị:

Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua

Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn

Vành lược bạc li ãy tan dịp gỗ

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.

Nhưng đó mới chỉ là chuyện chuốc rượu, nghe đàn. Còn trong Truyện Kiều trong trường hợp này không có một tiếng đàn nào cất lên, nghĩa là không có được sự sạch sẽ, thanh cao như thế. Chủ nghĩa thực hiện qua tài năng của Nguyễn Du tinh tế và sâu sắc biết chừng nào!

Nhưng âm hưởng chủ đạo của cả đoạn thơ không phải là tả cảnh. Như tên gọi của đoạn trích, đó là “Nỗi thương mình”:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn cảnh

Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Ởđôi câu lục bát có tính chất mở đầu tâm sự này, ta nhận ra hai khía cạnh. Thứ nhất cái khoảnh khắc thuộc về mình, được là mình của Thuý Kiều thật hiếm hoi, ít ỏi. Đó là một phút lặng của tâm hồn, một nốt lặng giữa bản nhạc xô bồ, ồn ã. “Khi tỉnh rượu” gợi đến những cuộc say, “lúc tàn canh” gợi ra cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Lúc đó, nàng thuộc về người khác, là con người khác. Đến lúc này đây mới được là mình. Thứ hai, khi đã trở lại là mình thì cảm nhận sửng sốt, kinh hoàng: nàng không còn là nàng nữa. Cái thảng thốt ấy thể hiện bằng nhịp điệu giật cục. bằng ba chữ “mình” lặp lại ai oán xót xa. Đây là tiếng kêu trời, là tiếng kêu thầm tuy không một giọt nước mắt tuôi rơi mà thấm vào gan ruột. Câu thơ như động tác soi gương ấy nói về sự thay đổi, sự hủy hoại, sự phai tàn vừa như một tiếng kêuthan vừa như một lời tự vấn. Nó có liên quan đến những cuộc hoan lạc, những trận cười, những cuộc say không còn ngày tháng nữa. Nhớ lại mà “giật mình”, nhớ lại mà ghê rợn như kẻ sa chân vào địa ngục giữa chốn trần gian. Nó cũng còn liên quan đến thành phần xuất thân của nàng, phẩm chất tiết sạch giá trong của nàng nữa. Cái ý ở ngoài lời này mới là phần chìm của “tảng băng trôi”. Cũng cần phải hiểu thêm: Thuý Kiều vốn là con người tuy rất giàu tình thương, nhưng trước đây tình thương ấy hướng về người khác: thương Đạm Tiên, thương cha và em, thương Kim Trọng. Thương đến mức quên mình. Còn đến lúc này đây con người cá nhân của nàng mới xuất hiện. Và một khi xuất hiện nó như một trận sóng xô bờ, nối tiếp nhau, chồng chất lên nhau, quặn thắt.

Nỗi thương mình trước hết là thương số phận của mình, thân phận của mình:

Khi sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

Bằng phương pháp so sánh, Thuý Kiều thấy hai đầu của đối cực hiện ra như một vực một trời: trước khác, bây giờ khác. Trước đây “phong gấm rủ là” êm đềm, ấm cúng, gia phong, nề nếp “Êm đềm trướng rủ màn che – Tường đông ong bướm đi về mặc ai”. Đó là một thứ hoa thơm phong nhuỵ ý tứ, giữ gìn. Còn bây giờ vẫn bông hoa ấy đã rách nát, tả tơi. vẫn là cách nói tượng trưng, cách điệu của văn chương bác học mà gợi nhiều liên tưởng đến cuộc dâu bề thăng trầm. “Hoa giữa đường” là một thứ hoa roi lấm láp. Vẫn biết cuộc đời là biến đổi nhưng sự biến đổi nhanh chóng và ghê gớm đến thế kia thì thật bất ngờ. Hai từ "sao” (Khi sao, giờ sao) từ hình thức nghi vấn chuyển sang hình thức cảm thán chính là vì thế. Trở lại phép so sánh, ta nhận ra một dấu hiệu khác thường. Nếu chỉ đọc hai câu “khi sao” và “giờ sao” thì thấy rất là đăng đối. Nhưng đến hai cặp câu tiếp theo thì sự đăng đối đã không còn. Vậy chỉ còn một cách hiểu: vế thứ nhất chỉ có một câu (“Khi sao phong gấm rủ là”), còn vế thứ hai là tất cả những câu còn lại. Những câu còn lại này cụ thể hóa cho cái hình ảnh bông hoa giữa đường trên phương diện hình thể, thân xác của loài hoa. Nói đến “mặt” (Mặt sao…), nói đến “thân” (Thân sao…) là nói đến nhan sắc của người phụ nữ. Nhưng hàm nghĩa trong trường hợp này lớn hơn. Ví như câu: “Mặt sao dày gió dạn sương”. Đó là thái độ vô cảm của người con gái vốn mẫn cảm và da cảm là nàng Kiều trước đây. Cũng câu thơ nói đến “gió sương” này ta còn nhớ lúc mã Giám Sinh xem mặt Thuý Kiều, nàng rất ngại ngần, e lệ: “Ngại ngùng giợn gió, e sương". Sự e lệ ấy giờ đây đã không còn. Điều này có khi còn sợ hơn cả tấm thân ngọc ngà mà giờ đây ong chường bướm chán. Tuy nhiên về tổng thể mạch thơ vẫn được nối kết với nhau rất chặt chẽ. Chặt chẽ trong sự tính đếm kiểm kê về cái còn cái mất. Chặt chẽ trong sự lắp đặt bốn từ “sao” như một tiếng thở dài. Chặt chẽ cả trong thái độ buông xuôi, bít lực.

Nỗi thương mình thứ hai là thương cho sự lẻ bóng, cô đơn không có gì bầu , không có người tri kỉ. Có đến sáu câu thơ tả cảnh. Nhưng cảnh tuy không phải không đẹp, nhưng nó vô hồn. Nói cảnh đẹp vì ở đây có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt:

Đôi phen gió tựa hoa kể

Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bê trăng thâu.

Nhưng người với cảnh chỉ là “đồng sàng dị mộng” mà thôi. Một khía cạnh nữa của đoạn thơtả cảnh, ấy là sự bẽ bàng. Sự bẽ bàng này ta đã gặp một lần khi Kiều ở lầu Ngưng Bích: “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya – Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Nhưng lần ấy tuy có lo sợ nhưng chưa hết hi vọng. Còn lúc này đây, hi vọng đã không còn. Cái buồn tủi của con người lây sang cảnh vật đã đành (“Người buồn cảnh cóvui đâu bao giờ), vẻ trong sáng của thiên nhiên còn tương phản với tấm thân ô uế. Cho nên cũng là “Nhìn hoa bóng thẹn” nhưng không phải do cảnh ngộ trớ trêu như lần trước mà là sự huỷ hoại nhân phẩm của một con người. Con người ấy bây giờ đây chỉ còn lại cái bóng của chính mình. Cũng cầm kì, thi, hoạ, nhưng gượng gạo, uể oải:

Vui là vui gượng kẻo là

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Sự lẻ bóng đơn côi thể hiện trong cách dùng từ (từ “vui” và từ “ai”) trong tiết tấu chì chiết, đay nghiến bản thân chỉ những con người biết tự trọng như nàng Kiều mới có.

Xét cho cùng, mặt đen tối của hoàn cảnh cũng như sự tủi phận xót xa của Thuý Kiều có một lớp nghĩa thứ hai. Đó là những khao khát của một con người hướng thiện muốn vươn lên như một loài sen. Dù sống giữa chốn bùn nhơ nhưng “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đó là tia sáng lạc quan nhất mà người đọc có thể cảm thông và chia sẻ: “Chữ trinh còn một chút này” với Kim Trọng. Chung thuỷ với cái đẹp của tâm hồn, không đồng loã với cái xấu và cái ác, đó là phẩm chất đáng trân trọng nhất của nhân vật nàng Kiều, một sáng tạo vô giá của Nguyễn Du.

Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Gợi ý

I. Những tri thức bổ trợ

1. Vị trí đoạn trích trong Truyện Kiều

Đoạn trích Nỗi thương mình từ câu 1229 đến câu 1248 trong Truyện Kiều. Trước đó kể về quá trình Kiều sau khi bán mình, bị Mã Giám Sinh đưa đến lầu xanh của tú Bà. Biết thực chất hoàn cảnh của mình, Thúy Kiều đã chống đối quyết liệt nhưng cuối cùng vẫn mắc bẫy của Tú Bà và buộc phải ra tiếp khách làng chơi.

Đoạn trích nói về tình cảnh trớ trêu mà Kiều đã gặp phải và nỗi niềm thương thân xót phận của Thúy Kiều.

2. Tri thức văn hóa

Trên thực tế, nếu phải gợi sự thật bằng đúng cái tên của nó thì Thúy Kiều trong đoạn trích này là một cô gái lầu xanh.

Cần chú ý đến thái độ khắc nghiệt của Nho giáo đối với vấn đề trinh tiết của người phụ nữ. Đối với người phụ nữ bị đẩy vào hoàn cảnh như Thúy Kiều, nhà nho thường nghiêng về lựa chọn cái chết để bảo vệ nhân cách. Vì thế, nhà nho xưa hay ca ngợi những phụ nữ chết theo chồng hoặc không tái giá khi chồng chết để bảo toàn chung thủy, trinh tiết đối với người chồng.

Với một quan niệm đạo đức khắt khe như vậy, xã hội phong kiến coi vẻ những người kĩ nữ lầu xanh. Nguyễn du đã chọn chính người kĩ nữ lầu xanh làm nhân vật chính diện, ông đã trình bày lại quá trình xã hội đã biến một người con gái lương thiện, tài sắc thành kĩ nữ như thế nào, bộc lộ tâm hồn trong sáng của Kiều. Qua tâm tình của Thúy Kiều ở chốn lầu xanh, ta thấy rõ nàng như đóa hoa sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Đoạn trích thể hiện sự đồng cảm của Nguyễn Du đối với nàng Kiều trong thân phận của Kĩ nữ. Đây là một bằng chứng về chủ nghĩa nhân đạo cao cả của Nguyễn Du.

II. Phân tích đoạn trích

1. Hình tượng nhân vật Thúy Kiều

– Thúy Kiều trong đoạn trích xuất hiện với tư thế của một kĩ nữ lầu xanh. Một loạt từ ngữ dẫu là ước lệ vẫn đủ để thông báo về tình cảnh và thân phận thực tế của Thúy Kiều: Bướm lả ong lơi; cuộc say, trận cười, là gió cành chim, tống ngọc, trường khanh. Cuộc sống nơi nhà chứa hiện lên với các góc độ khác nhau: quan hệ chơi bời phóng đãng, nhưng cuộc truy hoan kéo dài thâu đêm suốt sáng, những người khách chơi,..

– Thúy Kiều về hình thức đang sống trong không gian nhà chứa, đang có thân thế của một kĩ nữ. Tuy nhiên, từ trong sâu thẳm tâm hồn kiều, nàng luôn vươn lên khỏi vũng lầy nhơ bẩn đó: nàng giật mình, thương mình mỗi khi vắng vẻ, nàng thấm thía nỗi ô nhục, sự chán chường:

Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Nàng như một thân xác vô hồn :
Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.

– Giữa chốn nhà chứa ồn ào, Thúy Kiều là một người cô đơn. Kể cả những lúc ngắm cảnh cùng ai đó thì cảnh vẫn không an ủi được nàng:

Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
Cảnh nào chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Kể cả những lúc cùng ai đó tìm những thú vui tinh thần như cầm kì thi họa thì nàng vẫn thấy gượng gạo. Những người đó dẫu sao vẫn không phải là tri âm, tri kỉ:

Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nhìn bề ngoài một cách hình thức, Thúy Kiều là một kĩ nữ, nhưng tâm hồn nàng, nhân cách nàng vẫn ngời sáng. Nguyễn Du để Kim Trọng nói một câu rất chính xác về Kiều trong ngày hội ngộ:

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

Đó là tấm lòng rộng mở của Kim Trọng, cũng tức là Nguyễn Du đối với nàng Kiều. Đây chính là cái lớn, cái vĩ đại của nhà nhân đạo chủ nghĩa chân chính có tầm nhìn vượt xa cách nhìn đầy kì thị của xã hội phong kiến đối với một người phụ nữ rơi vào thân phận kĩ nữ.

2. Nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật

– Để diễn tả thân phận éo le của nhân vật ( Phải tiếp khách làng chơi ở chốn lầu xanh), tác giả đã khai thác thế mạnh của bút pháp ước lệ. Những từ ngữ ẩn dụ như Bướm – ong, lá gió – cành chim, gió tựa – hoa kề, các điển tích như Tống Ngọc – Trường Khanh, mưa sở – mây tần. các từ cuộc say – trận cười,.. vẫn kể về số phận thực tế của Thúy Kiều mà tránh tả một cách trần trụi cuộc sống ở chốn nhà chứa, tránh được việc nhấn chìm nhân vật chính diện của toàn tác phẩm vào vũng bùn nhơ của nhà chứa. Điều này thể hiện chủ nghĩa nhân đạo đặc biệt của Nguyễn Du.

– Nghệ thuật đối xứng đã được tác giả khai thác triệt để các cấp độ đối xứng khác nhau để tô đậm nỗi thương thân xót phận của nhân vật. Có các cấp độ khác nhau như sau:

+ Tiểu đối trong cấu trúc bốn chữ được dùng khá phổ biến: bướm lả/ ong lơi; là gió/ cành chim; dày gió/ dạn sương; bướm chán/ ong chường; mưa Sở/ mây Tần; gió tựa/ hoa kề. Đối xứng như vậy có tác dụng nhấn mạnh, gây chú ý hơn đến nội dung của cụm bốn chữ thông thường ( chẳng hạn viết bướm lả/ong lơi nhấn mạnh cảnh ngộ của Thúy Kiều hơn là viết ong bướm lơi lả).

+ Tiểu đối trong phạm vi câu thơ: Cuộc say đầy tháng/ trận cười suốt đêm; sớm đưa tống ngọc/ tối tìm Trường Khanh; khi tỉnh rượu lúc tàn canh.. có tác dụng gia tăng tính chất toàn cảnh cuộc sống ê chề nơi lầu xanh, đau khổ chán chường kéo dài ngày và đêm, sớm và tối lúc tỉnh và say,..

+ Đối giữa hai câu thơ lục/ bát như: Khi sao phong gấm rủ là/ giờ sao tan tác như hoa giữa đường ( đối lập quá khứ và hiện tại); mặc người mưa Sở mây Tần/ Những mình nào có biết xuân là gì. (đối với giữa người và ta). Đối kiểu này tạo điều kiện nhìn nỗi thương thân xót phận của nhân vật từ những góc độ khác nhau.

+ Đối hai khổ thơ 4 câu với nhau như:

Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Đối với

Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nói chung mỗi cấp độ đối xứng có chức năng khác nhau nhưng chúng góp phần quan trọng làm tăng khả năng thể hiện tâm trạng nhân vật, cho phép nhìn cảnh ngộ của nhân vật từ nhiều chiều khác nhau.

– Ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật: Ngôn ngữ của nhân vật tức là ngôn ngữ dưới hình thức phát ngôn trực tiếp của nhân vật (trong đoạn trích chủ yếu là những lời than thở của Thúy Kiều) khiến cho nỗi niềm thương thân trách phận tỏ ra chân thực hơn, nhận được sự đồng cảm của người đọc nhiều hơn. Thân sao bướm chán ong chường bấy thân; người buồn cảnh có vui đâu bao giờ; ai tri âm đó mặn mà với ai?

LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ