Văn phân tích

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Truyện Kiều

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Truyện Kiều – Bài làm 1

Không phải đến , tinh thần nhân đạo mới được phổ vào văn chương nghệ thuật nhưng có thể khẳng định từ khi phôi thai nền tiếng Việt, tinh thần nhân đạo được kết tinh đậm nét nhất ở tác giả này. Và Truyện Kiều là một trong những sáng tác tiêu biểu mang nặng giá trị nhân đạo hơn cả.

Xét đến cùng, nhân đạo là tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Lòng nhân đạo được biểu hiện trên nhiều khía cạnh mà trước hết đó là thái độ tố cáo, vạch trần tội ác của những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người; biểu dương, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người; thông cảm, thấu hiểu những tâm tư, tình cảm cũng như những nguyện vọng của con người, giúp họ nói lên những ước nguyên đấu tranh để giành được ước nguyện ấy. Cả ba biểu hiện này đều có trong giá trị nhân đạo Truyện Kiều.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có hẳn một tuyến nhân vật lí tưởng mà ông yêu thích. Viết về những con người này, cảm hứng của thi nhân bao giờ cũng là cảm hứng ngợi ca. Nguyễn Du ca ngợi nhan sắc của Thúy Kiều, Thúy Vân, của Kim Trọng, Từ Hải… bằng những lời thơ đẹp vô cùng. Họ đẹp từ nhan sắc:

Làn thu thủy, nét xuân sơn
  ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Và tài năng thì khó ai sánh kịp:

Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Đó là cách Nguyễn Du ngợi ca phụ nữ. Đối với những trang nam tử như Kim Trọng, Từ Hải, nhà thơ cũng luôn lựa chọn những lời thơ đẹp nhất để miêu tả ngoại hình, tài năng của họ:

Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đống anh hào
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

Không chỉ khẳng định vẻ đẹp con người từ hình thức, Nguyễn Du còn rất đề cao phẩm chất, nhân cách của những nhân vật lí tưởng. Nhân vật trung tâm trong Truyện Kiều (Thúy Kiều) có một lòng hiếu nghĩa sâu nặng với và thủy chung son sắc với người yêu. Để đáp đền công ơn mẹ, khi gia đình gặp biến, bị bắt, Kiều đã quyết định bán mình chuộc với một dứt khoát:

Làm con trước phải đền ơn sinh thành

Để rồi, khi phải dứt bỏ mối tình với chàng Kim, nàng vô cùng đau xót:

Bây giờ trâm gãy tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Tấm lòng trinh bạch đó qua mười lăm năm lưu lạc tuy bị vùi dập đau đớn nhưng vẫn luôn được nàng gìn giữ.

Không dừng lại ở việc ngợi ca những vẻ đẹp thuộc về con người, Nguyễn Du còn luôn đứng về phía những con người nhỏ bé. Trên lập trường nhân bản, nhà thơ lên án, tố cáo tất cả những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người. Từ kẻ “vô danh tiểu tốt” như thằng bán tơ đến lũ vô loài như Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, đến những kẻ “ăn trên ngồi chốc”, thuộc hàng phương diện quốc gia như Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến,… tất cả đều bị Nguyễn Du vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác, đê tiện, bỉ ổi. Chúng tồn tại trong câu chuyện của thi nhân như những thế lực hắc ám, phản động, lúc nào cũng gieo rắc những hành động thiếu nhân tính xuống số phận những con người nhỏ bé, bất hạnh. Vì chúng mà gia đình Thúy Kiều đang yên ấm phải thất tán. Vì chúng mà người con gái xinh đẹp, tài hoa như Thúy Kiều bị vùi dập một cách không thương tiếc. Mười lăm năm lưu lạc chính là mười lăm năm Kiều phải nếm trải, chịu đừng mọi nỗi oan khuất kinh khủng nhất. Phát hiện vĩ đại nhất và cũng đau đớn nhất của Nguyễn Du về thân phận con người là phát hiện về thân phận con người trong xã hội phong kiến. Con  người bị coi như một món hàng, có lúc bị mang ra mặc cả, cân đo:

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về số phận người nông dân trong xã hội phong kiến qua những bài ca dao.

Cò kè bớt một, thêm hai,
Giờ lâu ngã giá, vàng ngoài bốn trăm.

Con người hai lần bị bán chác vào chốn nhơ bẩn nhất trần gian:

Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.

Con người bị đòn roi vùi dập:

Uốn lưng thịt đổ, dập đầu máu sa.

Con người bị đòn ghen oan khuất; Con người bị lợi dụng, bị biến thành kẻ phản bội…

Chà đạp lên con người là cơ man nào những thế lực phi nhân tính. Chúng châu tuần, hợp sức để bóp nghẹt sự sống con người. Có lẽ trong lịch sử nỗi đau thương, chưa có người phụ nữ nào phải chịu nỗi đau dằng dặc, chồng chất, đáng sợ như Thúy Kiều của Nguyễn Du. 

Tố cáo các thế lực hủy hoại con người cũng có nghĩa Nguyễn Du đã thấu hiểu nỗi đau khổ mà con ngưười phải chịu đựng. Hơn một lần trong các sáng tác của mình, nhà thơ khóc:

Đau đớn thay thân phận đàn bà!

Và khi viết về Thúy Kiều – người đàn bà oan nghiệt nhất trong xã hội phong kiến, ngòi bút thi nhân luôn lặn sâu vào tâm trạng nhân vật, phát hiện ra những nỗi đau đớn và miêu tae một cách cảm động về chúng. Có thể coi Trao duyên là một trong những đoạn trích hay nhất, thể hiện sâu sắc lòng thương cảm của nhà thơ. Trao kỉ vật cho Thúy Vân mà Thúy Kiều như con nuối tiếc khôn nguôi và dường như muốn níu kéo:

Duyên này thì giữ vật này của chung

Hai chữ của chung mà tác giả lựa chọn đủ để thể hiện nét tâm trạng đó. Dường như giữa Thúy Kiều và Nguyễn Du có một sự đồng cảm kì lạ. Đó là lí do mọi nỗi đoạn trường của Thúy Kiều đều được Nguyễn Du thấu hiểu và diễn tả bằng một xúc cảm yêu thương đến lạ. Đến Từ Hải bước vào đời Kiều, Nguyễn Du không nhằm mục đích xây dựng cho nàng một tình yêu mới. Quan trọng hơn, ông muốn người anh hùng này sẽ giải thoát nàng khỏi kiếp đoạn trường, sẽ trả lại cho nàng lẽ công bằng mà nàng đã bị lũ người tráo trở, bạc ác, tinh ma cướp mất. Và hơn hết, từ các nhân vật Thúy Kiều, Từ Hải, Nguyễn Du còn nói lên khát vọng của con người thời đại mình: khát vọng tình yêu và khát vọng công lí. Chưa khi nào trong văn học trung đại có người con gái dám xé rào đêm, xăm xăm băng lối đường khuya một mình sang nhà người yêu tự tình như Thúy Kiều. Chưa khi nào trong văn học trung đại có người anh hùng dám dang tay cứu mĩ nhân và giúp nàng lấy lại công bằng như Từ Hải. Ở thời đại Nguyễn Du, khát vọng của ông là khát vọng không tưởng. Nhưng rõ ràng, tư tưởng của nhà thơ cho thấy cái nhìn tiến bộ vượt tầm thời đại và thấm đượm tinh thần nhân bản. Nói Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi và có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời là bởi vậy.

Cùng với những giá trị nghệ thuật, giá trị nhân đạo là một trong những phương diện làm nên thành công của Truyện Kiều. Nhưng hơn hết, giá trị nhân đạo đó là bằng chứng về một tấm lòng, một nhân cách cao cả của thời đại, của dân tộc. 

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Truyện Kiều – Bài làm 2

Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong thế kỷ XIX. ‘Truyện Kiều’ của ông là đỉnh cao chói lọi và niềm tự hào lớn của nền văn học cổ Việt Nam.

‘Trải qua một cuộc hể dâu Những điều trông thấy mả đau đớn lòng’

Áng thơ tự sự — trữ tình này không chỉ là tiếng nói lên án những thế lực đen tối, tàn bạo trong xã hội phong kiến thối nát mà còn ‘thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của thi hào Nguyễn Du’.

Ị. Nội dung tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du được thể hiện trong ‘Truyện Kiều’ là gì ?

Tinh thần nhân đạo là cảm hứng nhân văn bao trùm lên toàn bộ ‘Truyện Kiều’. Đó là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người tài sắc, lòng hiếu nghĩa, vị tha, chung thủy trong tình yêu… Đó là tấm lòng của nhà thơ đổng tình với những ước mơ và khát vọng về tình yêu lứa đôi, về tự do và công lý; là sự đổng cảm, xót thương trước bao nỗi đau, bị vùi dập của con người, nhất là đối với người phụ nữ ‘hạc mệnh’ trong xã hội phong kiến. Có thể nói, cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du là cảm hứng trân trọng thương yêu con người bị áp bức, chà đạp.

2. Phân tích- chứng minh luận đế:

a.    Tinh thần nhân đạo trong ‘Truyện Kiều’, trước hết là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp cùa con người. Kiều là hiện thân cùa cái đẹp và tài năng tuyệt vời. Nàng Kiều diễm, rực rỡ ‘Hoà ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh’. Kiều không chỉ đẹp ‘nghiêng nước, nghiêng thành ‘ mà còn có một tài nâng toàn diện, lỗi lạc rất đáng tự hào:

'Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi hoạ đù mùi ca ngâm’.

Kim Trọng, một văn nhân, tài tử ‘vào trong phong nhã ra ngoài hào hoà’. Là một ‘thiên tài’ hôi tu của tinh hoà thời đai ‘văn chương nết đất, thông minh tính trời’. Mỗi bước dị của chàng Kim đều đem đến cho đất trời cỏ cây hoà lá một sức sống đẹp tươi kỳ diệu:

‘Hài văn lần hước dặm xanh,

Một vùng như thể cây quỳnh cành dao’.

Môi tình Kim Trọng – Thúy Kiều là một thiên diễm tình. Đó làmột tình yêu tự nguyện vượt ra ngoài khuôn khổ lể giáo phong kiến, rất trong sáng và thủy chung

của ‘người quốc sắc, ke’ thiên tài’.

Kiều là một đứa con chí hiếu. Gia đình gập tai biến. Tài sản bị bọn sai nha ‘sạch sành vét cho dẩy túi tham’, cha bị tù tội. Kiều đã quyết hi sinh môi tình riêng,

để cứu cha và gia đình. Hành động bán mình chuộc cha của Thuý Kiều thể hiện đức hi sinh và thấm đượm một tinh thần nhân đạo cao đẹp, làm cho người đọc vô cùng cảm phục và xúc động:

–  ‘Hạt mưa sá nghĩ phận hèn,

Liêu đem tấc cò quyết đền ha xuân’

–  ‘Thà rằng liều một thân con,

Hoà dù rã cánh, lá còn xanh cây’.

Đọc ‘Truyện Kiều’, lần theo khổ ải của Kiều, ta vô cùng cảm phục trước tấm lòng đôn hậu, hiếu thảo, tình nghĩa của nàng. Kiều như quên hết nỗi đau cùa riêng mình mà dành tất cả tình thương nhớ thắm thiết cho cha mẹ và hai em. Nàng lo lắng cho cha mẹ già yếu, buồn đau, không ai chăm sóc đỡ đần:

‘Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ…’

Tình tiết ‘trao duyên’ trong ‘Truyện Kiều’ cũng là một nét rất đẹp cùa tình cảm nhân đạo. Trước bi kịch cuộc đời ‘Hiếu tình khôn nhẽ hai dường vẹn hai’, Kiều đã ‘cậy em’ và trao duyên cho Thúy Vân thay mình trả nghĩa ‘nước non’ với chàng Kim:

‘ Ngày xuân em hãy cỏn dài,

Xem thêm:  Hãy viết một văn bản trình bày hiện tượng thể hiện bản thân ở giới trẻ hiện nay

Xót tình máu mù thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suôi hãy còn thơm lây.

Chiếc thoa với hức tờ mảy,

Duyên này thì giữ, vật này của chung’.

b.   Tinh thẩn nhân dạo trong ‘Truyện Kiều’ còn là tiếng nói đổng tình, đồng cảm của thi hào Nguyễn Du với những ước mơ về công lí, những khát vọng về tự do.

Từ Hải là một hình tượng mang màu sắc sử thi, một anh hùng xuất chúng có tài nâng đích thực và sức mạnh phi thường. Một ngoại hình siêu phàm ‘Râu hùm hàm én máy ngài. Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao’. Những chiến công hiển hách, lảy lừng ‘Huyện thành đạp đổ nám toà cỗi nam’. Từ Hải là một anh hùng đầy chí khí ‘Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!’. người anh hùng ấy, khi lưỡi gươm vung lên là công lý được thực hiện:

‘Anh hùng tiếng đã gọi rằng Giữa dường dẫu thấy hất hằng mà tha’.

Từ Hải đã đem uy lực của người anh hùng ra giúp Kiều ‘háo ân háo oán’. Hình tượng Từ Hải là một thành cổng kiệt xuất của Nguyễn Du trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, là một biểu hiện sâu sắc về tinh thần nhân đạo. vẻ đẹp nhân vàn toát lên qua hình tượng này, tựa như ánh sao băng lướt qua màn đêm giông bão tăm tối của đời nàng Kiều vậy Tuý ngắn ngủi nhưng sáng ngời hi vọng và niềm tin:

‘Rằng: Từ là đấng anh hùng.

Dọc ngang trời rộng vẫy vùng hiển khơi’.

c.   Sốphận con người – dó là điểu day dứt khôn nguôi của Nguyễn Du. Trái tim nhân ái bao la của nhà thơ đã dành cho kiếp người tài sắc bạc mệnh sự cảm thông và xót thương sâu sắc.

Sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh, Kiều đã trải qua mười lăm năm trời lưu lạc, nếm đủ mùi cay đắng, nhục nhã ‘Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lẩn’. Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, bị giết chết. Kiều phải hầu rượu đánh đàn trong bữa tiệc quan,… uất ức quá, nàng phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Câu thơ của Nguyễn Du như một tiếng nấc cất lên não lòng. Những từ ngữ: ‘thương thay’, ‘hại thay’, ‘làm chi’, ‘còn gì là thân’ tựa như những giọt lệ chứa chan tinh nhân đạo, khóc thương cho số đoạn trường:

‘ Thương thay cũng một kiếp người,

Hại thay mang lấy sắc tài làm chi

Những là oan khổ lưu li Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!’.

Nhân vật Đạm Tiên mãi mãi là một ám ảnh đối với mọi người. Người kĩ nữ ‘nổi danh tài sắc một thì’ nhưng mệnh bạc đau đớn ‘Sôhg làm vợ khắp người ta. Hại thay thác xuống làm ma không chồng’. Kiều đứng trước mộ Đạm Tiên, cất lên lời đổng cảm thê thiết! Kiều khóc Đạm Tiên hay Nguyễn Du khóc thương cho nỗi đau của bao người phụ nữ bị vùi dập trong xã hội cũ!

‘Đau đớn thay phận đàn hà Lời rằng hạc mệnh cũng là lời chung’.

Nguyễn Du, nhà thơ thiên tài của dân tộc thông qua số phận và tính cách nhân vật trung tâm- Thúy Kiều – đã biểu hiện trong áng thơ tuyệt tác ‘Đoạn trường tân thanh’ cảm hứng nhân đạo sâu sắc, cảm động.

Tinh thần nhân đạo cao cả là nội dung tư tưởng đặc sắc tạo nên vẻ đẹp nhân văn của áng thơ này, Chúng ta vô cùng tự hào về Nguyễn Du, một tâm hồn tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên, một trái tim giàu yêu thương, đồng cảm với tâm tư và số phận cùa con người, một tài năng lớn về thi ca đã làm rạng rỡ nền văn học Việt Nam.

Nguyễn Du và ‘Truyện Kiều ‘ sống mãi trong tâm hồn dân tộc, như tiêng hát lòi ru của mẹ. Cảm hứng nhân đạo của nhà thơ là tiếng thương muôn đời:

‘ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…’

Từ khóa tìm kiếm:

Post Comment