Văn phân tích

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn của Kim Lân – Bài làm 1

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay và xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Truyện có giá trị nhân và hiện thực sâu sắc làm lay động mọi trái tim người đọc. Thông qua tình huống “nhặt” đươc vợ thì tác giả đã cho tối thấy nhiều điều về khắc nghiệt và tối tăm của người ở những năm 1945, và qua đó cũng thấy được khát vọng mãnh liệt cũng như là ý thức về nhân phẩm cao.

Giá trị nhân đạo chính là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm , nó được tạo nên bởi niềm tin cảm thông một cách sâu sắc với nỗi đau của con người, luôn nâng niu và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn đó của họ.

Trước hết, qua tác phẩm chúng ta thấy được tác phẩm đã bộc lộc được niềm xót xa đối vối cuộc sống cực khổ của người dân nghèo trong nạn đối 1945, hơn nữa qua đó còn nhằm tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp. Bối cảnh chính diễn ra ở một xóm ngụ cư, nơi có cái đói đang hoành hành ở khắp nơi. Thứ đầu tiên bước vào câu chuyện đó là ánh sáng nhập nhòa chập choạng không sáng hẳn mà cũng không tối hẳn, trên con đường và ánh sáng đó leo lét hiện lên và bóng dáng người đi thì  “xanh xám như những bóng ma”. Người sống thì nằm ngổn ngang khắp cả lều chợ còn người chết thì “cái thây nằm còng queo bên đường”. Quang cảnh được miêu tả thật rùng rợn đúng với cảnh đói chết chóc “bầy quạ cứ gào lên từng hồi thê thiết”, lâu lại văng vẳng cả tiếng thúc thuế rồi có cả không khí tang tóc ảm đạm “ “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.

Thứ hai, tác phẩm đã đi sâu khám phá về hạnh phúc và khát vọng sống của con người mà đại diện đầu tiên đó là nhân vật Tràng. Khi nhặt được vợ anh cũng phân vân có nuôi nổi mình không mà còn đèo bòng nhưng một lúc lâu sau thì anh ta lại  “tặc lưỡi”: “Chậc, Kệ!”.

Khi đưa vợ về, cuộc đời khốn cùng đến nỗi mua hai hào dầu cũng đã thấy hoang phí lắm rồi nhưng lại nghĩ rằng  “vợ mới vợ miếc thì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưa tối đã súc ngay vào”. Đây là một sự kiện lớn trong cuộc đời Tràng và đó là ngày tràng có vợ và nhà cũng cần phải sáng.

Tiếp theo nhân vật chúng ta muốn nhắc tới đó là người vợ nhặt. Thị chấp nhận bỏ qua mọi ý thức về danh dự để theo không Tràng về nhà. Chính hoàn cảnh lúc bấy giờ đã đẩy con người ta phải bỏ cả danh dự để tồ tại, mặt khác nó còn bộc lộ lên được lòng ham sống một cách mãnh liệt nhất của một con người ở đáy tận cùng của xã hội.

Bà cụ Tứ – một người đã sắp gần đất xa trời nhưng lại có hi vọng về tương lai tươi sáng nhiều nhất ,từ việc “đan cái phên ngăn riêng chỗ của vợ chồng đứa con cho kín đáo”, đến việc “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà”… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọn cửa nhà, sáng hôm sau thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng” và hình như ai nấy cũng  đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.  Qua đó chúng ta có thể thấy được niềm hi vọng về cuộc đời của các nhân vật, về hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp với nó vấn vương ở trong tâm trí của Tràng.

Giá trị nhân đạo của truyện còn được thể hiện ở một niềm tin sâu sắc vào sự đổi đời và vào lòng nhân hậu của con người. Tràng tuy có vẻ bề ngoài xấu xí nhưng bên trong lại chứa sự cảm thông, chứa lòng thường người sâu sắc, và đặc biệt là sự hào phóng chu đáo đó là đãi thị những bốn bát bánh đúc, mua một chai dầu và mua cho thị một cái thúng con con. Có thể đó là một hành động bình thường nhưng nó đã thể hiện được tình và thái độ trách nhiệm của Tràng, của một người đàn ông.

Bà cụ Tứ là người có tấm lòng nhân hậu, yêu thương con mình hết mực và bà còn cảm thông cho tình cảnh của nàng dâu mà con mình mới “nhặt” được, “có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”. Bà còn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình đối với người con “trong mắt bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” nhưng bên cạnh đó bà cũng cố tạo nên niềm vui cho gia đình giữa cảnh đói nghèo này, người mẹ đó luôn sống vì con mình và luôn tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con cái.

Nổi bật nhất ở trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là về niềm tin tưởng sâu sắc về con người lao động, vào bản năng sống và khát vọng sống mạnh mẽ của con người. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng.

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 2

Nạn đói khủng khiếp năm 1945 là một đề tài được nhiều tác giả, nhiều nhà văn quan tâm. Viết về một thời kì mà theo nhà văn là “có lẽ đến năm 2000 con cháu chúng ta phải kể cho cháu nghe để rùng mình”. Ở  thời kì ấy, các nhà văn đã hướng ngòi bút của mình theo nhiều khía cạnh : người thì trực tiếp miêu tả lại hiện thực, người lại miêu tả lại đời sống tinh thần của nhân dân ta thời kì gian khổ đó. Nhà văn Kim Lân cũng đã mượn đề tài nạn đói này để viết lên truyện ngắn “ Vợ Nhặt”. Tác phẩm được đánh giá là “ tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc”.

Nhà văn Kim Lân là một cây bút nổi tiếng trong nền văn học nước nhà. Nhắc đến ông, người ta nhắc đến một nhà văn của đất quê, một nhà văn “ một lòng đi về với đất, với những hồn hậu chất phác nguyên thủy của đời sống nông thôn”. Có lẽ tại yêu thương mảnh đất quê hương, gắn bó với nhân dân, với nông thôn nên Kim Lân đã viết lên “ Vợ Nhặt” với tất cả tấm lòng nhân đạo yêu thương của mình.

“Vợ Nhặt” được xây dựng trên bối cảnh của nạn đói năm 1945, tiền nhân của tác phẩm chính là truyện “Xóm ngụ cư”. Đến năm 1962 tác phẩm chính thức ra đời  với tên gọi “Vợ Nhặt” và được in trong tập truyện ngắn mang tên “Con chó xấu xí”. Tác phẩm đã đi sâu vào trong lòng người đọc bởi nó mang một giá trị nhân đạo sâu sắc. Giá trị nhân đạo là một yếu tố không thể thiếu trong sự thành công của tác phẩm, muốn tác phẩm thành công thì tác phẩm ấy phải mang giá trị nhân đạo và muốn có được giá trị nhân đạo nhà văn phải có một tấm lòng nhân đạo. Giá trị nhân đạo của tác phẩm được biểu hiện ở việc nhà văn hướng ngòi bút  vào việc tố cáo xã hội xấu xa bóp nghẹt và hủy diệt quyền sống của con người. Mặt khác, đó là việc nhà văn lên tiếng bênh vực, bảo vệ con người. Và giá trị nhân đạo của tác phẩm còn là việc nhà văn trân trọng, nâng niu giá trị con người và biểu hiện cuối cùng là việc nhà văn đã mở ra một tương lai tươi sáng  hơn cho cuộc sống của họ. Ngay trong “Vợ nhặt” Kim Lân đã làm được tất cả những điều đó. Chính vì vậy, mà sự thành công của tác phẩm là điều dễ hiểu.

Xem thêm:  Ít lâu nay, một số bạn trong lớp có phần lơ là học tập. Em hãy viết 1 bài văn để chứng minh "Nếu khi ta còn trẻ, ta không chịu khó học tập thì lớn lên...

Hiện thực được tác giả phơi bày lấy bối cảnh chung là nạn đói năm 1945 đã giết chết hơn 2 triệu đồng bào ta. Nhưng không gian hẹp hơn được tác giả miêu tả là không gian xóm ngụ cư nghèo trong những ngày đói kém…Không gian ấy hiện lên trong lúc chạng vạng tối với những dãy phố heo hút, xác xơ trong gió, không nhà nào có ánh điện… một không gian hoàn toàn tăm tối thiếu sức sống. Trong không gian ấy, âm thanh người ta có thể nghe thấy chỉ là âm thanh của những con quạ kêu lên từng hồi thê thiết ngoài bãi chợ, là tiếng khóc tỉ tê vẳng lại từ đâu đó. Âm thanh ấy chỉ càng làm cho xóm chợ trở nên càng heo hút , tăm tối, bóng dáng của cái chết như đã dật dờ, ẩn hiện…Và bầu không khí được nhà văn miêu tả cũng là bầu không khí ngột ngạt, không khí vẩn lên mùi ẩm mốc của rác rưởi, mùi gây của xác người chết. Trong bức tranh ấy hình ảnh con người hiện lên cũng thật tội nghiệp đáng thương. Họ là ai…? Là mặt buồn rười rượi ngồi trong xó cửa, là những khuôn mặt u tối của những người dân trên đường Tràng về nhà, và đó cũng là hình ảnh anh Tràng những buổi chiều chạng vạng khi đi làm về “Tràng bước nhũng bước mệt mỏi, cái đầu trọc cúi về phía trước, cái áo nâu tàng vắt trên vai, dường như những gánh nặng vật chất đang đè nặng lên đôi vai rộng như lưng gấu của hắn”. Đến lúc này con người hiện lên vẫn là những con người có sự sống, nhưng sự sống của họ cũng đang độ heo úa, sự sống ấy cũng đang bị đe dọa. Họ sống như những bóng ma (“ đi lại dật dờ như những bóng ma”). Trong không gian. Trong âm thanh, trong hình ảnh con người cái chết, cái đói như đang ngự trị. Nhà văn đã miêu tả hình ảnh xóm chợ thật xót xa, đau thương. Hình ảnh người chết được miêu tả mang một sức ám ảnh rất lớn  “không sáng nào những người đi chợ không bắt gặp vài ba cái xác nằm cong queo giữa đường”. Bằng cách sử dụng từ phủ định “ không “ ở ngay đầu câu văn, Kim Lân đã phơi bày một hiện thực vô cùng đau xót, cái chết đã hiện hình một cách rỗ nét và phổ biến, không thể tránh khỏi.

Hoàn cảnh ngày đói được tác giả miêu tả rõ qua số phận nhân vật Tràng và ở hình ảnh người đàn bà vợ nhặt.

Anh cu Tràng là dân xóm ngụ cư, nơi mà chỉ có những người ngoại tỉnh phiêu bạt đến, vì miếng cơm manh áo mà phải sống “tha hương” xa rời quê hương bản quán. Anh Tràng lại chỉ là một người kéo xe bò, nhà nghèo, mẹ già, tính lại đần đù. Khi miêu tả cuộc sống anh Tràng, nhà văn đã miêu tả bằng tất cả sự cảm thông của mình. Cái đói, cái nghèo đã tước đi của anh cu Tràng cả quyền được có gia đình, được sống hạnh phúc, bởi nghèo chẳng đủ tiền lấy vợ. Ngay trong tác phẩm, Kim Lân đã để bà cụ Tứ nói lên  sự thật đau lòng này “có đến nước này người ta mơi lấy con mình mà con mình mới lấy được vợ “. Đúng trong hoàn cảnh đói khát ấy, nhu cầu đặt ra duy nhất là lương thực, là giải thoát khỏi cái đói, anh cu Tràng và cả bà cụ Tứ nữa dù rất muốn Tràng lấy vợ, có được hạn phúc nhưng trước hoàn cảnh thực tế họ buộc phải quên đi để lo miếng cơm manh áo cho cuộc đời mình. Cuộc đời anh Tràng đã bị cái đói, cái khổ làm cho anh Tràng phải quên đi nhu cầu hạnh phúc của mình, nhưng khi miêu tả cuộc đời người đàn bà vợ nhặt ta mới thấy hết được sự hủy hoại mạnh mẽ cuộc sống của con người, mới thấy hết được sự khắc nghiệt của cuộc sống đói khổ. Người đàn bà vợ nhặt trong tác phẩm là người đàn bà không tên hay không có nổi một cái tên, suốt tác phẩm nhà văn chỉ gọi chị ta bằng “chị” , bằng “thị” nhưng cũng không một dòng tên tuổi. Dường như ở đây nhà văn đã bộc lộ một thái độ chua xót đến cực độ, cái đói cái nghèo đã làm cho con người ta trở nên rẻ rúng. Để miêu  tả sự rẻ rúng của số phận con người , Kim Lân đã miêu tả qua việc anh Tràng nhặt được vợ. Người đàn ông vốn tưởng như suốt đời không thể lấy được vợ đã có vợ mà lại có vợ một cách hết sức “oanh liệt”, là “nhặt vợ”. Câu chuyện tưởng như đùa nhưng lại hết sức chua chát ,đau xót. Người đàn bà vợ nhặt sẵn sàng theo không anh Tràng về làm vợ chỉ sau hai lần gặp. Kim Lân miêu tả thị ở chợ là một người đàn bà có cách đối đáp chỏng lỏn, ngoa ngoắt “ Điêu, người thế mà điêu” cách ăn uống thô tục, thiếu văn minh, thậm chí là vô ý  rồi lấy đũa quệt ngang miệng và nói : “Hà , ngon …” . So với những phẩm chất thông thường của người phụ nữ , thì thị là một người đàn bà vô duyên hết chỗ nói . Song thật đáng thương đó chỉ là người đàn bà trong thời điểm ngày đói , là sản phẩm của nạn đói.

Sự thật đã được tác giả phơi bày ở đây chính là bức tranh ngày đói đã hủy hoại con người , làm mất đi tất cả những giá trị tối thiểu của cuộc sông thường ngày của con người đó là nhu cầu hạnh phúc, là đạo đức,nhân cách của con người. Sự thật về nạn đối ấy còn được miêu tả qua “bữa cơm ngày đói với một nồi cháo lõng bõng , một ít chuối thái rối, một dúm muối một nồi chè khoán mà thực chất là một nồi chè cám, ăn vào chát xít và nghẹn bứ ở cổ”… Bữa cơm ngày cưới mừng cô dâu chú rể ấy khiến người đọc nghẹn ngào xúc động , rơm rớm nước mắt. Đến đây người đọc nhận thấy sự khắc nghiệt đến tột độ của cuộc sống đói khát.

Nhưng nếu như Kim Lân chỉ dừng lại ở việc miêu tả, tái hiện lại sự thật về đời sống bóp nghẹt mọi quyền sống của con người thì giá trị con người vẫn chỉ dừng lại ở tất cả những gì tầm thường và nhỏ bé ấy. Song chính trong hoàn cảnh cái đói cái khổ ấy, nhà văn đã tìm ra phần tươi đẹp bên trong những số phận nhỏ bé kia. Khi nạn đói đang hoành hành và nhu cầu lớn nhất của con người là miếng ăn, thì Kim Lân vẫn nhận ra vẻ đẹp tâm hồn con người.. Tràng, một thanh niên nghèo khó ấy đã dang tay đón người đàn bà đau khổ về làm vợ. Lúc đầu không phải Tràng không lo sợ, ai chẳng sợ trong khi “mình còn chẳng nuôi nổi mình nữa lại còn đèo bòng”. Nhưng xuất phát từ tình thương, từ khát khao hạnh phúc, Tràng đã chặc lưỡi “chậc, kệ”. Thực chất đó không phải là sự chặc lưỡi làm liều mà nó xuất phát từ chính con người Tràng. Hóa ra không phải trong cái đói, người ta chỉ có nhu cầu ăn, mà người ta còn có nhu cầu được hưởng hạnh phúc và vì thế Tràng đã có vợ.

Chuyện Tràng có vợ là một điều vô cùng bất ngờ, bất ngờ với Tràng, với mẹ Tràng và cả với những người dân xóm ngụ cư. Việc Tràng lấy vợ đã đem tới cuộc sống của mọi người những biến đổi lạ. Nếu như ở phần sự thật đau lòng trước khi Tràng lấy vợ là một người đàn bà “chao chát”, “chỏng lỏn”, xấu xí thì ngay sau sự kiện “nhặt vợ” của Tràng, Kim Lân đã nhìn thấy bản chất tốt đẹp trong người đàn bà ấy. Thị cũng là một người đàn bà, cũng ý tứ phết đấy chứ. Thị bước đi sau Tràng vài bước, cái nón nghiêng che khuất nửa mặt, lúc vào nhà thì ngồi ở mép giường, nói chuyện với mẹ Tràng ngoan ngoãn từ tốn. Hóa ra cái “chao chát”, “chỏng lỏn” trước kia chỉ là một sản phẩm nhất thời, còn về bản chất thì thị là một người đàn bà tốt. Không tốt, không đáng trân trọng sao được, khi người đàn bà cố nén cái thở dài lúc nhìn căn nhà rúm ró của mẹ con Tràng. Người đàn bà ấy theo Tràng về làm vợ với mong muốn được ăn no hơn, sung sướng hơn, nhưng khi về đến nhà chồng, đối diện với cái nghèo khó, thị cũng chẳng bỏ đi trong khi thị hoàn toàn có thể làm thế. Sở dĩ như vậy là vì thị dám chấp nhận hoàn cảnh, vả lại lúc này với thị cái cần chính là một mái ấm. Kim Lân dường như đã dành cho thị một sự ưu ái đặc biệt như phần bù đắp cho những đau khổ kéo dài trong cuộc đời người đàn bà ấy. Việc miêu tả hình ảnh người đàn bà vợ nhặt buổi sáng hôm sau đã hoàn toàn chứng minh thị là một người phụ nữ đảm đang thật sự, chính điều này Tràng cũng nhận ra, thị dậy sớm quét tước nhà cửa gọn gàng, chuẩn bị cơm, nước tinh tươm. Đọc đến đây người đọc mới cảm nhận được hết sự yêu thương trân trọng của nhà văn đối với nhân vật của mình.

Xem thêm:  Phân Tích Hình Ảnh Bà Tú Trong Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Để thể hiện mục đích bênh vực con người, tác giả còn miêu tả thông qua những , cử chỉ của bà cụ Tứ. Theo lẽ thông thường, theo phép tắc đạo cũ của xã hội không mấy bà mẹ chồng nào lại có thể chấp nhận một người con dâu như người đàn bà vợ nhặt, nhưng bà cũng “mừng lòng” đón con dâu. Đó là biểu hiện của sự thương con, thương dâu.

Người đọc hoàn toàn có thể cảm thấy có một luồng sinh khí ấm áp, hạnh phúc đang thổi vào tâm hồn con người, trong cái đói, cái  khó giá trị con người vẫn không hề bị mất đi, bị xóa nhòa mà chỉ bị che lấp, khi có điều kiện nó lại bừng sáng.

Trong “Vợ nhặt” Kim Lân cũng đã xuất phát từ tình thương yêu, trân trọng con người mà đã mở ra cho họ một tương lai tươi sáng chủ yếu thông qua sự động viên an ủi của bà cụ Tứ. Bà luôn động viên an ủi các con để các con yên tâm “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời, may ra thì trời cho đời con cháu chúng mày…”. Lời nói của bà cụ Tứ chính là niềm hi vọng của các nhân vật trong tác phẩm, họ hi vọng một tương lai tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho cuộc đời họ và cuộc đời con cháu họ. Mọi hi vọng vẫn chưa phải đã bị dập tắt.

Ở cuối tác phẩm, Kim Lân đã miêu tả trong đầu Tràng đang hiện lên cảnh đám người đói và lá cờ của Việt Minh. Chi tiết này là một chi tiết mở cho một kết thúc của tác phẩm. Dường như nó sẽ dẫn đến việc Tràng cùng đoàn người đói kia phá kho thóc, hứa hẹn một cuộc sống mới cho gia đình Tràng, một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Có chi tiết này khiến “Vợ nhặt” không còn là một tác phẩm mang tính hiện thực nhân đạo, mà nó còn mang cả tính cách mạng.

Sự thành công của “Vợ nhặt” chính là kết quả của một cây viết tài năng, một cây bút nồng nàn với đời, biết yêu thương con người và trân trọng giá trị con người. Với sự thành công của tác phẩm, một lần nữa giá trị nhân đạo được tiếp tục đề cao trong mỗi tác phẩm và cái “Tâm” của người viết càng khẳng định được giá trị của mình.

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân – Bài làm 3

Vợ nhặt là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của Kim Lân. Truyện kể về chuyện anh cu Tràng nhà nghèo ở xóm ngụ cư đã nhặt được vợ khi trận đó đang diễn ra kinh khủng, người chết đói đầy đường.

Truyện ngắn đã phản ánh nỗi đau khổ và niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc của người nghèo, qua đó nói lên số phận con người trong xã hội cái đêm trước khi cách mạng bùng nổ. Giá trị lớn nhất của truyện Vợ nhặt là giá trị nhân đạo.

Cho đến nay trong nền văn học Việt Nam chưa có tác phẩm nào về trận đói năm Ất Dậu – 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện.

1. Truyện Vợ nhặt đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, người nghèo trong trận đói năm Ất Dậu. Đoàn người từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế dắt díu nhau lên “xanh xám như những bóng ma” nằm ngổn ngang khắp các lều chợ. Quạ đen đậu trên những ngọn cây bay vù lên “như những đám mây đen” trên nền trời. Mùi gây của người vẫn lên khắp xóm chợ. Người chết đói như ngả rạ. Sáng nào cũng bốn cái thây nằm còng queo bên đường!

Đói và chết đó đâu chi riêng ai! Mẹ con Tràng, cái nhà “vắng teo đứng rúm ró” trên mảnh vườn đầy cỏ dại. Cửa nhà là một tấm phên rách. Niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. cơ ngơi ấy đã làm cho nàng dâu mới thất vọng “nén một tiếng thở dài”. Bà cụ Tứ “mặt bủng beo u ám”. Anh cu Tràng “bước mệt mỏi”, cái đầu “trọng nhẵn chúi về đằng trước’’ với bao lo 1ắng, chật vật. Đám trẻ con xóm chợ, trước đây tinh nghịch thế, giờ đây chúng "ngồi ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích”. Trước nhà kho trên tỉnh có mấy chị con gái “ngồi vêu ra”. Đặc biệt nhân vật “thị”, cái đói đã đi tất cả. Không họ tên, tuổi tác, không gia đình, anh em. Không quê hương bản quán. Hình hài tiều tụy, xơ xác đáng thương. Áo quần “tả tơi như tổ đỉa “gầy sọp hẳn đi”, khuôn mặt lưỡi cày “xám xịt”, chỉ còn thấy hai con mắt. Con đường phía trước của thị là vực thẳm, là chết đói. Cái đói đã cướp đi của thị tất cả. Chỉ nghe Tràng nói “muốn ăn gì thì ăn”, thấy anh ta vỗ vỗ vào túi khoe “rích bố cu”, hai con mắt “trũng hoáy” của thị tức thì “sáng lên".Tình tiết thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ, nhưng không đáng chê, trái lại rất đáng thương. Thị đang đói, thị đã nhịn đói nhiều ngày, thị cần được ăn, thị cần được sống. Kim Lân rất nhân hậu khi nói về thị, khi nói về sự đói khát của người nghèo.

Cái xóm ngư cụ càng về chiều “càng xơ xác, heo hút”, nhà cửa “úp súp,tối om”, những khuôn mặt “hốc hác u tối”. Bữa cơm đón nàng dâu mới của bà cụ Tứ là một nồi cháo cám. Người con gái giữa trận đói như một thứ vứt đi, có thể “nhặt” được. Thị lấy chồng không một quả cau, không một lá trầu, chẳng có quan tám tiền cheo, quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”. Về nhà chồng, đứng trước mẹ chồng, nàng dâu mới “khép nép”, “cúi mặt xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Tối tân hôn “tiếng khóc tỉ tê” của những gia đình có người mới chết đó vọng đến thê thiết não nùng. Sáng tinh mơ tiếng trống thúc thuế dội lên từng hồi “dồn dập, vội vã”. Bằng những chi tiết rất hiện thực, rất điển hình, Kim Lân đã thể hiện tình cảm xót thương, lo âu cho số phận của người nghèo khổ trước hoạn nạn, trước nạn đói đang hoành hành. Đáng quý hơn nữa, ông đã đứng về phía nhân dân, về phía người nghèo vạch trần và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp, bắt trồng đay, bắt đóng thuế, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, gây ra trận đói năm Ất Dậu làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

2. Truyện Vợ nhặt đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với hạnh phúc của con người. Cách kể của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt được vợ và những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới. Chỉ một vài câu “tầm phơ tầm phào”, Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ! Nhặt được vợ nhưng hắn cùng phải liều: “Chặc, kệ!”. Hắn nghĩ thóc gạo này nuôi thân còn khó, lại còn “đèo bòng". Trên đường dẫn vợ mới nhặt được về nhà xin phép mẹ

Già, anh cu Tràng vui như mở cờ trong bụng. Kim Lân tả đôi mắt và nụ cười của anh con trai cục mịch này đế làm nổi bật niềm hạnh phúc mới nhặt được vợ. Tràng “phởn phơ khác thường". Hắn “tủm tỉm cười nụ”. Hai mắt “sáng lên lấp lánh”, có lúc cái mặt hắn “cứ vênh lên tự đắc với mình”.

Xem thêm:  Có ý kiến cho rằng trong bài thơ "Bánh trôi nước", Hồ Xuân Hương đã vận dụng sáng tạo thành ngữ dân gian. Theo em có đúng không? Việc sử dụng sáng tạo...

Hình ảnh Tràng và thị đi bên nhau trông “hay đáo để”. Tràng khoe hai hào dầu, rồi cười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu: “Khỉ gió", nghểnh cổ thổi tắt phụt ngọn đèn con, bị thị mắng: “Chỉ được cái thế là nhanh. Dơ!”. Những tình tiết ấy rất hay nói lên tình yêu mạnh hơn cái chết.

Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động. Vượt qua phong tục tập quán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đà bà xa lạ, thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “ừ thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng". Tình thương của bà mênh mông, bà nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ được…”. Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu mới là “con”. Lòng đầy thương xót, bà nói với hai con: năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá. Qua đó ta càng hiểu sâu hơn cái lẽ đời. Nhân dân lao động nghèo khổ đứng trước tai họa, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ vật chất cho nhau để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và hi vọng: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời…”. Người đọc cảm thấv ngọn đèn “vàng đục” chiếu sáng trong mái lều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hi vọng và hanh phúc ấm no.

Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá trị nhân đạo tiêu biểu nhất trong truyện Vợ nhặt. Bà cụ Tứ gọi là “chè khoán… ngon đáo để”. Bà tự hào nói với hai con là “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy". Trong bữa cháo cám, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này. Cái gia đinh mẹ con vô cùng “đầm ấm hòa hợp” hạnh phúc. Sau này, vợ chồng cái Tràng có thể có những bữa cơm nhiều thịt cá ngon lành hơn, nhưng không bao giờ có thể quên được bữa cháo cám buổi sáng hôm ấy. Vị cháo “đắng chát” mà lại ngọt ngào chứa đựng bao tình thương của mẹ. Kim Lân sống gần gũi người nhà quê, ông hiểu sâu sắc tâm lí, tình cảm của họ. Ông đã làm cho những thế hệ mai hậu biết cái đắng chát trong cuộc đời cùa ông cảm nhận được cái hương đời, cái tình thương của lòng mẹ., mà không một cao lương mĩ vị nào có thể sánh được?

Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về sự đời cùa người dân cày Việt Nam. Mừng cho anh cu Tràng có vợ, bọn trẻ tinh nghịch reo lên: “chông vợ hài”. Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm cảm thấy “có một cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ”. Bà cụ Tứ vui sướng vì con trai đã có vợ, bà như trẻ lại, nhẹ nhõm tươi tỉnh “rạng rỡ hẳn lên”. Vợ Tràng trở thành người đàn bà “hiền hậu đúng mực”. Tràng như từ một giấc mộng bước ra. Anh ngủ dậy cảm thấy lửng lơ". Hạnh phúc đến quá bất ngờ. Việc hắn có vợ sau một ngày một đêm mà hắn “vẫn ngỡ ngàng như không phải”.

Sự đổi đời còn được thể hiện ở cảnh vật. Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét tước thu dọn lại nhà cửa, sân ngõ. Tiếng chổi quét sàn sạt. Hai cái ang được kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã được sạch. Mẹ chồng, nàng dâu mới, con trai, ai cũng muôn góp phần sửa sang tổ ấm gia đình hạnh phúc. Họ không nghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống về hạnh phúc và sự đổi đời. Tràng cảm thấy hắn đã “nên người”, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này!

Một chi tiết, rất hay là vợ Tràng sau khi nghe tiếng trống thúc thuế đã báo tin ở mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình “lá cờ đỏ bay phấp phới”. Cách mạng sắp đến. Nạn đói sẽ bị đẩy lùi. Hình ảnh lá cờ đỏ truyện Vợ nhặt không chỉ tô đậm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc quan đầy chấn động, như một dự cảm về ngày mai ấm no, hạnh phúc.

Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn màng nhưng quý và đáng trân trọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn Nhật Pháp gây ra đã cướp đi tất cả, tính mạng và phẩm giá con người. Một sự thật được khẳng định: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sống mạnh hơn cái chết. Quả thực cái vị đời ngọt ngào và người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo truyện Vợ nhặt.

Phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân – Gợi ý

1. Giới thiệu ngắn về tác giả, tác phẩm:

 – Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học Việt Nam sau 1945. Truyện được in trong tập Con chó xấu xí (1962).

– Vợ nhặt có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Thông qua tình huống “nhặt vợ” ngồ ngộ mà đầy thương tâm, tác giả đã cho ta thấy được nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trong nạn đói 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao của họ.

2. Giải thích khái niệm:

Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của nó.

3. Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm với các biểu hiện chính:

a) Tác phẩm bộc lộ niềm xót xa, thương cảm đối với cuộc sống bi đát của người dân nghèo trong nạn đói, qua đó tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân, phát xít đối với nhân dân ta (điểm qua các chi tiết miêu tả xóm ngụ cư trong nạn đói: những xác người còng queo, tiếng quạ gào thê thiết, tiếng hờ khóc trong đêm, mùi xác chết gây gây, những khuôn mặt u ám, những dáng ngồi ủ rũ, những nỗi lo âu…).

b) Tác phẩm đi sâu khám phá và nâng niu trân trọng khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống của con người. Cần làm rõ:

– Những khao khát hạnh phúc của Tràng (cái “tặc lưỡi” có phần liều lĩnh, cảm giác mới mẻ “mơn man khắp da thịt”, những sắc thái khác nhau của tiếng cười, sự “tiêu hoang” (mua hai hào dầu thắp), cảm giác êm ái lửng lơ sau đêm tân hôn…).
– ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật “vợ nhặt” (chấp nhận “theo không” Tràng, bỏ qua ý thức về danh dự).
– ý thức vun đắp cho cuộc sống ở các nhân vật (bà cụ Tứ bàn về việc đan phên ngăn phòng, việc nuôi gà; mẹ chồng, nàng dâu thu dọn cửa nhà quang quẻ…).
– Niềm hy vọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật (hình ảnh lá cờ đỏ vấn  vương trong tâm trí Tràng…).

c) Tác phẩm thể hiện lòng tin sâu sắc vào phẩm giá, vào lòng nhân hậu của con người. Cần làm rõ:

– Cái đẹp tiềm ẩn của Tràng: sự thông cảm, lòng thương người, sự hào phóng, chu đáo (đãi người đàn bà bốn bát bánh đúc, mua cho chị ta cái thúng con, cùng chị đánh một bữa thật no nê), tình nghĩa và thái độ trách nhiệm…
– Sự biến đổi của người “vợ nhặt” sau khi theo Tràng về nhà: vẻ chao chát, chỏng lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu, đúng mực, sự mau mắn trong việc làm, sự ý tứ trong cách cư xử…
– Tấm lòng nhân hậu của bà cụ Tứ: thương con rất mực, cảm thông với tình cảnh của nàng dâu, trăn trở về bổn phận làm mẹ, cố tạo niềm vui trong gia đình giữa cảnh sống thê thảm….

4. Đánh giá chung về giá trị nhân đạo của tác phẩm:

Điểm đáng nói nhất về giá trị nhân đạo của tác phẩm này là niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo ở đây rõ ràng có nét mới mẻ so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm của văn học hiện thực trước cách mạng.

Post Comment